Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Chương 2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 - 2019 Chương 3. Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đến năm 2030.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lí luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nông nghiệp NN là ngành SX cơ bản của xã hội, có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, là ngành đặc biệt quan trọng vì là ngành tạo ra và cung cấp thức ăn, thực phẩm nuôi sống con người.
NN được coi là ngành KT chủ đạo vì con người tồn tại và sống được là nhờ các SP ngành NN tạo ra. NN bao gồm các hoạt động trồng trọt các cây hàng năm: trồng lúa, trồng cây lấy củ, cây mía, cây rau đậu và trồng các cây lâu năm…, chăn nuôi gồm trâu, bò, heo và gia cầm. NN là ngành SX cơ bản của xã hội giữ một vị trí vô cùng to lớn trong phát triển KT ở hầu hết các nước, nhất là ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt, ở các quốc gia còn nghèo, phần lớn người dân sống bằng nghề nông, nhất là khu vực nông thôn. Như vậy, có thể hiểu NN là ngành SX vật chất giữ vai trò rất quan trọng của xã hội, sử dụng đất đai để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi, khai thác SP cây trồng, vật nuôi làm tư liệu SX để tạo ra lương thực, thực phẩm và các SP phục vụ nhu cầu của con người.
Đồng thời là nguồn nguyên liệu cho các ngành CN, điển hình là CN chế biến và là nguồn hàng cho xuất khẩu. NN là ngành giữ vị trí quan trọng trong CC nền KT quốc dân không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho cộng đồng dân cư mà còn góp phần tạo động lực thúc đẩy các ngành KT khác phát triển như CN, dịch vụ và du lịch. Cây công nghiệp Cây CN được chia thành hai nhóm chính: cây CN lâu năm và cây CN hàng năm. Cây CN lâu năm là loại cây trồng một lần, sinh trưởng và phát triển cho ra các SP trong nhiều năm phục vụ cho các ngành CN thực phẩm, CN chế biến; cây CN lâu năm gồm cao su, cà phê, điều, chè, tiêu, dừa… Cây CN hàng năm là loại cây sinh trưởng và phát triển trong thời gian không quá một năm; cây CN hàng năm gồm mía, cây thuốc lá, bông vải, đậu nành, đậu phộng, sắn.
Cây CN có vị trí và vai trò hết sức quan trọng đối 13 với các ngành CN, cung cấp nguyên liệu cho các ngành CN dệt may, chế biến thực phẩm, đồ ăn thức uống. Các CHN như bông, đay, cói… được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành CN dệt để SX ra các mặt hàng may mặc phục vụ nhu cầu ăn mặc của con người. Cây thuốc làm nguyên liệu cho ngành dược, tạo ra các loại thuốc thảo dược chữa bệnh cho con người. Các cây CN lâu năm là nguồn cung cấp nguyên liệu cho CN chế biến, thực phẩm.
Cây CN là nhóm cây trồng đem lại doanh thu, hiệu quả KT cao và có giá trị XK, thu lại nguồn ngoại tệ lớn. SP của cây CN dùng để làm nguyên liệu cho ngành CN chế biến, đặc biệt là CN nhẹ, CN thực phẩm, phát triển cây CN khắc phục được tính mùa vụ, tận dụng tối đa tài nguyên đất góp phần bảo vệ môi trường. Cây lương thực Cây lương thực là nguồn cung cấp tinh bột quan trọng cho con người và gia súc, gia cầm, tạo ra nguyên liệu phục vụ cho ngành CN chế biến lương thực, thực phẩm (rượu, bia, bánh, kẹo…) và là mặt hàng có giá trị XK. Như vậy, cây lương thực là các loại cây cung cấp thức ăn, tinh bột, chất dinh dưỡng cho con người, đa số các cây lương thực có thời gian sinh trưởng không quá một năm.
Cây lương thực gồm lúa, bắp, khoai lang, khoai tây… Ngoài ra, các phụ phẩm của cây lương thực như rơm rạ, lá bắp, … cũng là nguồn cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế CCKT là một tổng thể các ngành KT, trong đó gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ, liên kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những điều kiện KT – XH, lịch sử cụ thể, nhằm thực hiện các nhiệm vụ đã được đề ra. Một CCKT hợp lí phải có sự kết hợp giữa các bộ phận, thành phần, yếu tố một cách hài hoà, cho phép sử dụng một cách hiệu quả, hợp lí các nguồn lực tự nhiên và KT – XH của đất nước, đảm bảo nền KT tăng trưởng với tốc độ cao và phát triển ổn định hướng đến phát triển bền vững, hài hòa cả 3 mặt KT, xã hội và môi trường, không ngừng nâng cao, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân.
Về KT đảm bảo nền KT phát triển ổn định, góp phần gia tăng sự đóng góp vào GDP quốc gia, tạo sức hút và động lực cho sự phát 14 triển của đất nước. Về xã hội đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội, giải quyết tình trạng thiếu việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương. Về môi trường đảm bảo khai thác nguồn tài nguyên cũng như các nguồn lực của quốc gia một cách hợp lí, hiệu quả mà không làm hao mòn chúng. Như vậy, từ những phân tích trên, có thể hiểu: CCKT là một thể tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận, thành phần liên kết với nhau và có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau nhằm đảm bảo đạt hiệu quả KT cao, đồng thời CCKT còn là mối quan hệ chặt chẽ giữa mặt số lượng và chất lượng.
Cơ cấu nông nghiệp CCNN là một phạm trù nghiên cứu rộng, được nghiên cứu ở nhiều phạm vi, lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau. Mỗi lĩnh vực, mỗi chuyên ngành nghiên cứu sẽ có các hướng tiếp cận khác nhau, nhưng dù ở lĩnh vực nghiên cứu nào thì nó vẫn có chung nội dung nghiên cứu là trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN. CCNN là tỉ trọng tương đối giữa ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN. Việc sắp xếp, bố trí và hình thành CCNN hợp lí là vấn đề quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa cần thiết trên hai phương diện KT – XH và môi trường.
Cơ cấu ngành trồng trọt và chăn nuôi có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu ngành NN. Tuy ngành trồng trọt và chăn nuôi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng có rất ít quốc gia trên thế giới đảm bảo được sự cân đối, đồng đều giữa hai ngành này. CCNN là một bộ phận gồm các mối quan hệ, các thành phần, yếu tố cấu thành nền NN bao gồm các điều kiện về tự nhiên: đất đai, khí hậu, nước, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và các điều kiện KT – XH: quá trình phân công lao động xã hội, trình độ KHCN, phân bón, trình độ thâm canh, kinh nghiệm SX nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của con người theo đúng các mục tiêu đã được xác định trước đó. CCNN là mối quan hệ tương quan, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với nhau giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN.
Giữa chúng là một thể thống nhất với nhau về mặt không gian lẫn thời gian chịu ảnh hưởng của các nhân tố KT – XH, điều kiện tự nhiên nhằm tạo ra hiệu quả KT cao nhất. CCNN bao gồm CCNN theo ngành, theo lãnh thổ và theo TPKT. 15 CCNN theo ngành là tỉ lệ, mối quan hệ về mặt số lượng, chất lượng giữa các ngành trồng trọt và chăn nuôi với nhau để đưa ngành NN phát triển bền vững, đảm bảo vấn đề an sinh xã hội. CCNN theo ngành cho biết trình độ phát triển của lực lượng SX, trình độ tổ chức, phân công quản lí của một đất nước, một vùng lãnh thổ về NN.
CCNN theo TPKT là sự tương quan về tỉ trọng và quy mô giữa các thành phần KT bao gồm TPKT nhà nước, ngoài nhà nước và TPKT có VĐT từ nước ngoài cấu thành CCNN. TPKT ngoài nhà nước rất đa dạng, phong phú với sự tham gia của các thành phần KTTT và KT trang trại, hộ gia đình… Hộ KT tự chủ là lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra SPNN cho nền kinh tế quốc dân, KT trang trại và HTX từng bước hình thành, phát triển ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống KT. CCNN theo lãnh thổ là sự sắp xếp các ngành trồng trọt và chăn nuôi dựa vào lợi thế của lãnh thổ đó, để khai thác tối đa các nguồn lực của lãnh thổ nhằm đưa NN phát triển bền vững, đem lại hiệu quả cao nhất. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Nội dung của chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Trước khi Việt Nam đi lên và phát triển trong cơ chế nền KT thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã trải qua nền KT bao cấp với cơ chế tự cấp, tự túc, quan liêu, tồn tại nhiều bất cập, yếu kém.
Từ khi Việt Nam chuyển sang CC nền KT thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì quá trình phát triển KT của đất nước trong đó có ngành NN đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên quá trình CD vẫn còn nhiều khó khăn, còn diễn ra chậm chạp so với xu thế chung của thế giới, đòi hỏi nước ta phải có sự sắp xếp lại toàn bộ CC ngành KT, trong đó có ngành NN để có sự CD theo hướng nâng cao giá trị SP các mặt hàng được làm từ ngành trồng trọt, chăn nuôi, đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ đòi hỏi ngày càng cao hiện nay. CDCCNN là quá trình thay đổi tỉ trọng ngành NN gồm ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN nhằm tạo ra một CCNN có hiệu quả nhất góp phần đẩy mạnh ngành NN phát triển theo mô hình ứng dụng công nghệ cao. CDCCNN là một quy luật 16 khách quan, tất yếu phải diễn ra nhằm mang lại hiệu quả cao nhất về cả ba mặt: KT, xã hội và môi trường, CDCCNN gồm CDCCNN theo ngành, theo lãnh thổ, theo TPKT.
CDCCNN theo ngành là sự thay đổi có mục đích, có định hướng, là quá trình vận động mang tính khách quan của nền NN nhằm tạo ra một cơ cấu ngành NN phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay là hướng đến nền NN sản xuất hàng hóa, SX thâm canh tạo ra nhiều SP chất lượng, hiệu quả cao.