phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương, 9 tiết, 82 trang. Trang 5 Chöông 1 NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ LYÙ LUAÄN CÔ BAÛN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm c ơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1.
Cơ cấu kinh tế Bàn về cơ cấu nói chung, cơ cấu kinh tế nói riêng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau theo các quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, trước hết cơ cấu có thể hiểu là “cách tổ chức, sắp xếp các thành phần, bộ phận trong nội bộ nhằm thực hiện một chức năng chung”.[39,464] Thuật ngữ “cơ cấu”, từ “cơ cấu” tương ứng với từ “structure” hay “construction”. “Structure” chính xác hơn là tương ứng với thuật ngữ “cấu trúc” của Việt Nam và “cấu trúc” có ý nghĩa rộng hơn thuật ngữ cơ cấu. Cấu trúc là khái niệm nói về kết cấu bên trong của một đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành (như thuật ngữ cơ cấu) và bao hàm cả mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đó.
Từ góc độ cơ cấu nói chung, chúng ta có thể hiểu cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ trọng và các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế. Cơ cấu nền kinh tế quốc dân có thể được xem xét trên nhiều mặt, trên nhiều lĩnh vực và tùy theo cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau: Cơ cấu kinh tế nếu xét theo ngành sản xuất vật chất, có các ngành lớn nhất như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Đây là mặt cơ bản, quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế; đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của một nền kinh tế. 1 Cơ cấu xét theo trình độ khoa học - kỹ thuật, quy mô và loại hình sản xuất kinh doanh gọi là cơ cấu trình độ công nghệ; Cơ cấu xét theo phạm vi lãnh thổ, cơ cấu vùng, miền: vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nam Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ… Cơ cấu xét theo cấp quản lý: cấp trung ương, cấp địa phương; Cơ cấu xét theo trình độ phát triển phân công, hiệp tác, liên kết trong nước và với nước ngoài; Cơ cấu xét theo các thành phần kinh tế xã hội: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân….cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
“Cơ cấu kinh tế là phản ánh quan hệ giữa người sản xuất với giới tự nhiên, là sự tác động qua lại của mối quan hệ đó. Sự phát triển của sức sản xuất và quá trình tăng trưởng kinh tế không chỉ biểu hiện ở mức tăng khối lượng tài sản của xã hội mà còn biểu hiện ở sự thay đổi cơ cấu kinh tế, trong đó sự thay đổi cơ cấu ngành là quan trọng nhất.”[22,80] Theo lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yêu tố của nền kinh tế quốc dân, có mối liên hệ hữu cơ tương tác qua lại về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể nhằm vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu kinh tế là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội. Cơ cấu kinh tế không chỉ là quy định về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu hiện về số lượng- sự tăng trưởng của hệ thống, mà là nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố biểu hiện về chất - sự phát triển của hệ thống.
Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững khi nó có cơ cấu cân đối, hợp lý. Từ những khái niệm cơ cấu kinh tế trên đây chúng ta có thể hiểu cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ chủ yếu cả về chất và lượng giữa các bộ phận hợp thành (cả kinh tế- kỹ thuật và kinh tế- xã 2 hội). Những bộ phận đó nhất thiết phải gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ thuộc lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất hay gián tiếp trong khâu lưu thông. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế nhằm phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng thời kỳ để có những tác động cần thiết, thúc đẩy các xu hướng vận động tích cực, hạn chế những tiêu cực, nhằm đạt tới các mục tiêu đã định trước.
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa đối với thực tiễn là phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi địa phương trong từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử. Từ cách tiếp cận trên đây, trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là quan trọng nhất. Dưới góc độ: “Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu thị mối quan hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân”[4,149]. Định nghĩa về cơ cấu ngành cũng có thể được tiếp cận theo nhiều góc độ, tùy theo tính chất của từng ngành hẹp hay rộng.
Trong luận văn này chỉ đề cập cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng Đông Nam Bộ. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vừa là cơ cấu kinh tế ngành nhưng đồng thời vừa là cơ cấu kinh tế vùng. Bởi lẽ đối với nông nghiệp, nông thôn nói chung cũng như vùng ĐNB nói riêng theo lịch sử là những vùng rộng lớn, dân cư tập trung đông đúc và phát triển theo nhiều ngành nghề khác nhau. Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn, cần phải tính đến yếu tố quan trọng này, hình thành các khu dân cư đảm bảo tính truyền thông dân tộc, truyền thống văn hóa, dòng họ, truyền thống bản sắc dân tộc.
3 Đối với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ nâng cao tính hiện đại, tính đoàn kết giữa các dân tộc anh em mà còn phải giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, phát huy truyền thống dân tộc. Đây là những vấn đề đặt ra trong công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển vừa từng bước nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân vừa nâng cao đời sống vật chất cho mỗi thành viên trong xã hội. Cơ cấu nông nghiệp, nông thôn còn là cơ cấu kinh tế ngành. Như chúng ta đều biết mỗi một dân tộc, mỗi vùng nông thôn đều có các ngành nghề truyền thống lâu đời tạo ra những của cải vật chất nhất định đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên, mỗi dân tộc và toàn xã hội.
Quá trình “công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường” [7,94] Như vậy, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn tạo ra các ngành nghề mới, chuyển dần lao động trong các ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên để thực hiện vấn đề này có hai nhiệm vụ đặt ra: thứ nhất là cần phải tạo ra các tư liệu lao động và đối tượng lao động mới và gọi chung là tư liệu sản xuất. Với đặc trưng trong nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động, nó là tư liệu sản xuất đặc biệt. Do vậy giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải vừa tận dụng một cách có hiệu quả tối ưu diện tích đất đai đã có, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.
Thứ hai là có kế hoạch trong việc đào tạo đội ngũ lao động nông nghiệp, nông thôn để kết 4 hợp tốt với tư liệu sản xuất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tạo ra sản phẩm với hiệu quả cao. Cơ cấu nông nghiệp, nông thôn còn là cơ cấu kinh tế ngành, bởi trong nông nghiệp, nông thôn có nghiều ngành nghề khác nhau ngay trong lĩnh vực nông nghiệp đã có hàng trăm ngành nghề. Nếu chỉ tính các ngành chính đó là: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiểu thủ công nghiệp. Trong trồng trọt có: cây lương thực, cây công nghiệp, trồng rừng, cây ăn quả, đồng cỏ chăn nuôi gia súc.chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải tính đến hiệu quả các loại cây trồng vừa đảm bảo những nhu cầu thiết yếu vừa đảm bảo phát triển cho các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong chăn nuôi: gia cầm, gia súc, thủy hải sản, vừa phải bảo vệ và phát triển các loài động vật quí hiếm, vừa phải phát triển và chế biến các loại sản phẩm từ chăn nuôi tạo ra. Trong những thập niên gần đây nhu cầu “phần mềm” ngày càng tăng lên, “phần cứng” ngày càng giảm. Trước tình trạng lạm phát, tăng giá như hiện nay, nhu cầu ở các trung tâm thành phố về sản phẩm qua chế biến tăng nhanh, bởi nó không chỉ tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí trong phạm vi từng gia đình mà còn thuận lợi cho một xã hội công nghiệp. Việc nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản cũng là một trong những nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong những năm gần đây khi nguồn thủy sản ngày càng cạn kiệt, đánh bắt gần bờ không mang lại hiệu quả phải đánh bắt xa bờ là một tất yếu. Đối với vùng Đông Nam Bộ một lợi thế tuyệt đối đối với các tỉnh này là dọc duyên hải miền Trung, cơ hội thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Một đặc trưng nổi bật của vùng Đông Nam Bộ là diện tích rừng chiếm tỷ trọng lớn; do vậy cơ cấu nông lâm nghiệp chế biến là cơ cấu ngành quan trọng đối với một số tỉnh ở khu vực này. Phát triển ngành lâm nghiệp là vừa 5 khai thác chế biến vừa phải bảo vệ rừng, phát triển trồng rừng mới, phát triển các cây công nghiệp như cao su, bông, cà phê, ca cao.