Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Cơ cấu kinh tế a. Khái niệm Cơ cấu (hay kết cấu) nói chung là một phạm trù trù triết học phản ánh cấu trúc và các mối liên hệ tất yếu bên trong của một đối tượng.
Nói khác, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại, vận động trong những quan hệ cơ cấu nhất định. “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố, các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong hệ thống tái sản xuất xã hội, trong những điều kiện kinh tế xã hội, trong những không gian, thời gian nhất định” [11]. Cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định. Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành phần kinh tế.
Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất lượng trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện việc hình thành và chuyển dịch của các loại hình cơ cấu kinh tế [30]. “Cơ cấu kinh tế là thuộc tính có ý nghĩa quyết định của nền kinh tế, nó phản ánh tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế, phản ánh số lượng, chất lượng các phần tử hợp thành trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau để tạo nên hệ thống kinh tế vận động và phát triển không ngừng” [34].
Các khái niệm trên đều phản ánh được bản chất chủ yếu của cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia. Số lượng và tỷ lệ của các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước. Các mối quan hệ lẫn nhau giữa các ngành và các yếu tố hướng vào các mục tiêu xác định. Cơ cấu kinh tế là một phạm trù trừu tượng nên muốn nắm được bản chất của CCKT có hiệu quả thì cần phải xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tê quốc dân.
Nội dung Cơ cấu kinh tế có thể được xem xét trên ba nội dung chủ yếu sau đây: Cơ cấu kinh tế ngành: Là tổ hợp tương quan tỉ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh phần nào trình độ phân công lao động nói chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành kinh 5 tế được xem xét ở 3 nhóm ngành (khu vực kinh tế) chính: Nông nghiệp (nông – lâm – thủy sản); công nghiệp (công nghiệp – xây dựng) và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế lãnh thổ: Được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lí.
Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thể thống nhất và đều là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành và gắn liền cơ cấu ngành và thống nhất trong không gian lãnh thổ. Việc thay đổi cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành kinh tế quốc dân, phù hợp với đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi vùng nhằm khai thác triệt để thế mạnh của vùng đó. Cơ cấu thành phần kinh tế: Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lí phải dựa trên cơ sở hình thức tổ chức với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ. Đó chính là quan hệ giữa các loại cơ cấu. Ba bộ phân này hình thành cơ cấu kinh tế và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong những không gian và thời gian nhất định.
Chúng luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng gắn liền với sự phân công lao động, với những mục tiêu chiến lược của từng thời kì lịch sử nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế a. Khái niệm Các yếu tố tạo nên cơ cấu kinh tế thường thay đổi theo thời gian nên cơ cấu kinh tế cũng sẽ thay đổi theo từng thời kì khác nhau của quá trình phát triển. Quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế này gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hay nói cách khác “ Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế” [31] Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn phải dựa trên cơ cấu kinh tế hiện đại đang có của lãnh thổ bằng cách cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu, không phù hợp với điều kiện hiện có để xây dựng một cơ cấu kinh tế tiên tiến, hiện đại và phù hợp hơn. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình có chủ đích nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Đây là một quá trình nhằm tích lũy về lượng để dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hiện nay trên thế giới đang diễn ra 2 xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch từ kinh tế sản xuất sang khu vực dịch vụ (diễn ra ở các nước phát triển).
Chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất, tăng tỉ trọng công nghiệp – xây dựng, giảm tỉ trọng nông nghiệp. Thường diễn ra phổ biến ở các nước đang phát triển. Ở 6 một số nước đang phát triển, do ảnh hưởng của xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế và ảnh hưởng của cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại nên đã thực hiện được cùng một lúc 2 bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp a.
Khái niệm Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành [34]. Cơ cấu kinh tế có thể thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội theo từng thời kì, nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, đem lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống người dân. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể các bộ phận trong khu vực nông nghiệp hợp thành, có mối liên hệ hữu cơ với nhau về mặt vật chất và lượng, tác động qua lại lẫn nhau trong nhưng không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông nghiệp [28]. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thay đổi khi nền sản xuất hàng hóa ra đời.
Trước đây sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp, chú trọng tới trồng cây lương thực và chăn nuôi, kinh tế hộ gia đình là chủ yếu. Ngày nay với nền kinh tế thị trường, nền nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, cơ cấu ngành đa dạng, trong sản xuất áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại, sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân trong nước mà còn cung cấp cho công nghiệp chế biến, cho xuất xuất khẩu, sản xuất quy mô lớn, mang tính chuyên môn hóa, kinh tế trang trại phát triển [13]. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp bao gồm chủ yếu: Cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo lãnh thổ và thành phần kinh tế. Cơ cấu nông nghiệp theo ngành: Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn theo nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm lâm nghiệp và thủy sản.
Trong đó, nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; Lâm nghiệp bao gồm trồng, khai thác rừng và dịch vụ lâm nghiệp, thủy sản bao gồm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ thủy sản. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ: Là căn cứ để xây dựng nên những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp khác nhau chính là sự khác biệt giữa các lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện kinh tế xã hội (dân cư, lao động, nhu cầu thị trường, cơ sở vật chất kĩ thuật…). Các đơn vị lãnh thổ nông nghiệp này tuy có sự khác biệt với nhau song giữa chúng lại tồn tại mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế: Được hình thành dựa trên cơ sở là chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế nhà nước (trung ương, địa phương), kinh tế ngoài nhà nước (kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các thể…) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp a. Khái niệm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của một nền kinh tế nông nghiệp theo mục tiêu và phương hướng nhất định trong một trạng thái phát triển tối ưu để đạt hiệu quả mong muốn thông qua sự điều khiển có ý thức của con người trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan [13]. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm thay đổi các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc nên cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người và các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu đã xách định.