Đặt vấn đề An Giang là một tỉnh đầu nguồn lưu vực sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, với nguồn nước ngọt phong phú, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ được phù sa bồi đắp hàng năm, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Tổng diện tích đất nông nghiệp là 246.821 ha, trong đó vùng trồng lúa chiếm hơn 82% (233.018 ha), điều này đã tạo cho An Giang thế mạnh về sản xuất lúa nói riêng và tạo thế mạnh về nông nghiệp nói chung (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Bên cạnh những mặt thuận lợi đó, hàng năm tỉnh An Giang phải đối mặt với lũ lụt, gây ra nhiều thiệt hại về người và của, người dân không thể canh tác được làm dư thừa lao động nông nhàn trong mùa lũ, không có thu nhập làm đời sống nông dân khó khăn. Chợ Mới là một huyện thuộc tỉnh An Giang, với diện tích đất nông nghiệp là 25.357 ha, đây là một huyện cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, Sông Hậu và sông Vàm Nao, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, được phù sa bồi đắp và cung cấp một lượng thủy sản tự nhiên.
Để đảm bảo tính mạng, tài sản và gia tăng sản xuất, trong những năm gần đây, huyện đã tiến hành bao đê triệt để để sản xuất được nhiều vụ, gia tăng kinh tế. Chợ Mới là huyện có bao đê sớm nhất, với đê bao tháng 8 để bảo vệ lúa Hè Thu, năm 1998 đê bao tháng tám được thay thế dần bởi đê bao triệt để, và đến năm 2002 đê bao triệt để được xây dựng trên toàn huyện. Đây là một lợi thế cho Chợ Mới trong sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng các loại cây tăng từ 63.628 ha năm 2003, sản lượng cây trồng tăng lên đáng kể, sản lượng lúa tăng từ 272.988 tấn năm 2003, sản lượng bắp tăng từ 8. Từ khi có đê bao, người dân an tâm sản xuất, để tận dụng ưu thế này, người dân nên có chiến lược chọn lựa mô hình canh tác thích hợp, chọn lựa cây trồng, vật nuôi theo nhu cầu của thị trường.
Vì nhiều nơi bị ảnh hưởng của lũ không sản xuất được nên giá cả một số hàng hóa như các loại rau màu thường cao. Nắm bắt được tình hình trên để chọn lựa mô hình canh tác thích hợp, góp phần phát triển kinh tế nông hộ nói riêng, phát triển kinh tế tỉnh nhà nói chung, chúng tôi thực hiện đề tài “Các mô hình trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” để khảo sát các mô hình mà nông dân đang canh tác trong mùa lũ 2004, mong muốn tìm ra mô hình canh tác thích hợp, góp phần cải thiện đời sống nông dân. Mục tiêu nghiên cứu - Tổng kết các mô hình canh tác trong mùa lũ năm 2004. - Đánh giá hiệu quả của các mô hình.
- Đề xuất những mô hình canh tác thích hợp, đem lại lợi nhuận cao cho nông dân. Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Đặc điểm tự nhiên 2. Vị trí địa lý Huyện Chợ Mới có diện tích tự nhiên 35.571 ha, dân số 359.576 người, gồm 16 xã và 2 thị trấn.
Tây bắc giáp huyện Phú Tân, bắc giáp huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp, đông giáp thị xã Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp), đông nam giáp huyện Lấp Vò (Đồng Tháp), tây nam giáp thành phố Long Xuyên, tây giáp huyện Châu Thành và huyện Châu Phú. Gồm 70 tuyến địa giới cấp xã dài 242,209 km, trong đó 21 tuyến trùng với tuyến tỉnh và 15 tuyến trùng với tuyến huyện, được xác định bằng 71 mốc địa giới hành chính (8 mốc tỉnh, 15 mốc huyện và 48 mốc xã). Huyện lỵ cách Long Xuyên 29 km theo đường tỉnh lộ 944 từ An Hòa đi Cựu Hội và tỉnh lộ 942 từ Hội An đi Thuận Giang (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Năm 1978, An Giang bị lũ lớn, huyện Chợ Mới đã thực hiện thành công hệ thống đê bao ngăn lũ ở ấp Hòa Thượng, xã Kiến An, bảo vệ được một diện tích lúa khá lớn để giải quyết vấn đề giống cho vụ sau (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
Năm 1998, huyện Chợ Mới tiến hành đê bao triệt để, bảo vệ tài sản, tính mạng con người đồng thời gia tăng sản xuất. Đặc điểm sông ngòi Theo Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang (2003), Chợ Mới là huyện cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao và nhiều kênh rạch phục vụ cho tưới tiêu như rạch Ông Chưởng, kinh Cà Mau, kinh Long An, kinh Mới,… Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc - đông nam. Sông Tiền là trục giao thông thủy lợi quan trọng nhất, là nguồn cung cấp nước và phù sa lớn nhất, đồng thời cũng là con sông có chế độ dòng chảy và diễn biến lòng sông phức tạp nhất. Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền.
Đối với An Giang, sông Hậu là trục giao thông thủy đi xuyên suốt trung tâm của tỉnh từ thượng lưu về hạ lưu, là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên. Sông Vàm Nao chảy ven xã Phú Mỹ huyện Phú Tân và xã Kiến An huyện Chợ Mới, nối liền sông Tiền với sông Hậu. Rạch trở thành tuyến giao thông thủy quan trọng, trục tưới tiêu chính của huyện Chợ Mới là rạch Ông Chưởng, Cái Tàu Thượng. Rạch Ông Chưởng có dạng uốn khúc như một con rồng, lấy nước sông Tiền ngay đầu thị trấn Chợ Mới, chảy theo hướng đông bắc - tây nam.
Đặc điểm khí hậu Vĩ độ địa lý của An Giang nằm trong khoảng từ 100 - 110 vĩ độ bắc, tức là nằm gần với xích đạo nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo, thời gian mặt trời chiếu sáng dài. Trong mùa khô, bình quân mỗi ngày có tới gần 10 giờ nắng, còn trong mùa mưa là 7 giờ có nắng (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Hàng năm, An Giang chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và tây nam. Khí hậu An Giang mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình mà đặc trưng cơ bản của nó là một nền nhiệt độ cao và ít thay đổi quanh năm, nhiệt độ cao nhất ở An Giang dao động từ 360 - 380, nhiệt độ trung bình khoảng 270.
Chế độ mưa phong phú và phân hóa rõ rệt theo hai mùa gió, cụ thể là gió mùa mùa đông tương ứng với mùa khô, gió mùa mùa hè tương ứng với mùa mưa (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Lượng mưa trung bình ở Chợ Mới khoảng 114 mm, lượng mưa thấp nhất là 4,4 mm vào tháng 2, lượng mưa cao nhất xuất hiện vào tháng 10 khoảng 305 mm. Ẩm độ phụ thuộc vào lượng mưa. Ở An Giang, trong mùa khô ẩm độ ở thời kỳ đầu mùa là 82%, giữa mùa khoảng 78% và cuối mùa còn 72%.
Khác với mùa khô, mùa mưa ở An Giang là một mùa ẩm ướt thật sự, độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa trên 84%, có những tháng xấp xỉ 90% (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003). Đặc điểm đất đai Do vị trí của huyện Chợ Mới là cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao, chính điều này đã tạo nên đặc điểm đất đai của huyện, đất nơi đây được bồi đắp bởi phù sa hàng năm. Đặc tính chung của đất phù sa ở An Giang là chứa nhiều hữu cơ, pH thấp, ít bị bào mòn. Đây là nhóm đất được dùng để trồng lúa chủ yếu trong tỉnh với tính chất ít hoặc không bị phèn và có dinh dưỡng cao, khả năng tăng vụ có thể bắt đầu từ nhóm đất này.
Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao như Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu. Vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 - 2 m. Đất có phản ứng hơi chua, pH biến động trong khoảng 4,0. Đạm tổng số từ trung bình đến thấp (0,06 - 0,18%), đất nghèo lân và kali.
Thành phần cơ giới gồm sét chiếm 45%, bột 49%, cát 1,4%. Một phần nhỏ của huyện Chợ Mới mang đặc tính đất phù sa xám nâu ít được bồi đắp, pH khoảng 4,5. Tầng mặt có bề dày trung bình 30 - 50 cm, đất có độ dinh dưỡng khá cao. Đất có sa cấu nặng, hàm lượng sét chiếm 41,3%, bột 36,6%, cát rất ít hoặc không có (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003).
Đặc điểm kinh tế - xã hội 2.1 Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp Theo Phòng thống kê huyện Chợ Mới (2004a), toàn huyện Chợ Mới có diện tích đất tự nhiên là 35.571 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 25.357 ha, trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm là 22.670 ha, đất chuyên dùng là 3.618 ha, đất ở là 1.860 ha và đất chưa sử dụng là 4. Với diện tích đất nông nghiệp chiếm 71,29% tổng diện tích đất toàn huyện, nguồn lực lao động dồi dào, điều kiện tự nhiên thuận lợi là thế mạnh cho huyện phát triển nông nghiệp. Hiện trạng dân số và lao động Theo Phòng thống kê huyện Chợ Mới (2004a), tổng số dân của huyện là 359.576 người, số nam giới chiếm 178. Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 220.427, dân số trong độ tuổi lao động phục vụ trong các ngành nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm tới 114.764 người, mật độ dân số 1.010 người/km2.
Dân số toàn huyện tăng đều qua các năm tạo trở ngại cho phát triển kinh tế (Bảng 1). Bảng 1: Dân số - lao động huyện Chợ Mới, An Giang Chỉ tiêu 2001 2002 2003 - Dân số toàn huyện (người) 355.194 + Dân số trong độ tuổi lao động 121.010 - Số hộ toàn huyện 74.315 + Hộ nghèo theo tiêu chuẩn 2. Sản xuất nông nghiệp 2004 Ngành nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện vì huyện Chợ Mới chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (theo giá thực tế) tăng từ 430.300 triệu đồng năm 1999 lên 656.645 triệu đồng năm 2002 và 777.
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá thực tế) tăng từ 931.507 triệu đồng năm 1999 lên 1.982 triệu đồng năm 2002 và 1.659 triệu đồng vào năm 2003, trong đó, ngành trồng trọt chiếm 740.769 triệu đồng năm 2003; ngành chăn nuôi chiếm 42.763 triệu đồng năm 2003 tăng gần như gấp đôi trong vòng 4 năm.