Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nôngnghiệp Nông nghiệp là một khái niệm chỉ ngành nghề hay sản nghiệp, đối lập với công nghiệp, dịch vụ bao gồm những ngành lấy đất đai, mặt nước, đồng cỏ làm tư liệu sản xuất chủ yếu, là sản nghiệp cơ sở (nền tảng) của các sản nghiệp thứ hai (công nghiệp), sản nghiệp thứ ba (dịch vụ); là sản nghiệp đầu tiên cho sự sinh tồn của cư dân, là sản nghiệp chính của nông dân(Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2012) Nông nghiệp khác các ngành nghề khác: quá trình sản xuất của nó chịu sự chi phối của tài nguyên thiên nhiên và có sự ngắt quãng theo dây chuyền, là khâu sản xuất trung gian, các khâu trước và sau sản xuất không thuộc phạm trù nông nghiệp. Từ những nghiên cứu nêu trên và căn cứ vào phân ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, có thể thấy, nông nghiệp là một trong ba lĩnh vực của nền kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), gồm nhiều ngành hợp thành: ngành nông nghiệp, ngành lâm nghiệp, ngành thuỷ sản như sơ đồ 1.
Nền kinh tế Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực công nghiệp nông nghiệp dịch vụ Ngành nông nghiệp Ngành lâm nghiệp Ngành thủy sản Trồng trọt Trồng rừng Nuôi trồng Quản lý, Chăn nuôi Đánh bắt bảo vệ rừng Sơ đồ 1. Các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 5 Liên quan phát triển nông nghiệp bền vững đã có nhiều hội nghị toàn cầu như hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững năm 2002, cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trong nội dung Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020ban hành ngày 12/4/2012, Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) về các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nông nghiệp (Nguyễn Văn Hùng, 2009), Các quan điểm trên cho thấy, có nhiều cách thể hiện khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững, tập trung vào các nội dung về sự phát triển nông nghiệp về kinh tế, xã hội và môi trường. Về mặt kinh tế phải đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp, hiệu quả sử dụng các nguồn lực vốn, lao động, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, quản lý; về mặt xã hội đảm bảo tăng việc làm, thu nhập và đời sống dân cư, công bằng trong phân phối thu nhập trong nông nghiệp và tác động đến các lĩnh vực khác như nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp nhằm chuyển dịch một lượng lao động sang làm việc ở các lĩnh vực khác, về môi trường phải đảm bảo bảo vệ môi trường sinh thái. Các nội dung phát triển nông nghiệp bền vững tác động tương hỗ với nhau, phát triển kinh tế nông nghiệp thúc đẩy phát triển xã hội, bảo vệ môi trường, ngược lại, phát triển xã hội là điều kiện, tạo nguồn lực để phát triển kinh tế nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên môi trường là nguồn sống, điều kiện để phát triển kinh tế và xã hội.
Đó là những nội dung quan trọng để định hướng huy động và sử dụng vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, tiếp cận nghiên cứu hiệu quả vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp theo ba mặt: kinh tế, xã hội và môitrường. Vốn đầu tư cho phát triển nôngnghiệp * Khái niệm về vốn đầu tư cho phát triển nôngnghiệp Phạm trù vốn rất rộng, có nhiều quan niệm khác nhau, theo Viện Kinh tế vốnlàtiền,tàisản,theoSchillervốnlàtàisảncómụcđíchvàosảnxuấtkinhdoanh để tạo ra hàng hoá, sản phẩm cho xã hội, là toàn bộ của cải vật chất, có tác giả lại cho rằng vốn là nguồn lực kinh tế khi đã đưa vào chu chuyển, theo Tổng cục Thống kêvốn là những chi tiêu, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo vốn là hàng hoá. Vốn đầu tư là những chi tiêu cho (việc sản xuất) xưởng máy, trang thiết bị và những công trình xây dựng mới trong một thời kỳ nhất định cộng với những thay đổi trong hàng hóa lưu kho của các doanh nghiệp được tạo ra cho khu vực kinh doanh. Là một trong bốn thành tố của GDP bao gồm: Tiêu dùng, vốn đầu tư, mua hàng của chính phủ, xuất nhập khẩu ròng, trong đó vốn đầu tư là thành tố biến động mạnh nhất củaGDP(Đỗ Đức Quân, 2001) Nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển theo nghĩa hẹp là tiền vốn, theo nghĩa rộng, bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên.
Là loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế. Vốn đầu tư tài chính và vốn đầu tư thương mại là các loại vốn đầu tư chỉ trực tiếp làm tăng tài sản chính của người đầu tư, tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế, tích luỹ cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn đầu tư cho phát triển và thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối các sản phẩm. Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp để thực hiện các hoạt động đầu tư, là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động. 7 Từ các nghiên cứu nêu trên, có thể khái quát vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp là những chi phí bỏ ra để hình thành nên tài sản cố định (nhà, xưởng,.), hàng tồn kho, tài sản vô hình được sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp.
Vốn đầu tư phát triển là vốn đầu tư loại trừ vốn đầu tư tài chính (vốn đầu tư cho các hoạt động tài chính như ngân hàng, thị trường vốn…) và vốn đầu tư thương mại (vốn đầu tư cho các hoạt động dịch vụ, du lịch,…). Do nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất (khác với lĩnh vực dịch vụ bao gồm cả thương mại và tài chính) nên vốn đầu tư phát triển cho nông nghiệp và vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp có nội hàm như nhau. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là toàn bộ tiền vốn bỏ ra để làm tăng hoặc duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư tạo ra tài sản cố định, vốn đầu tư làmtăng tài sản lưu động, vốnchi mua các tài sản quý hiếm,… và vốn đầu tư phát triển khác nhằm nâng cao dân trí, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ dân sinh (Bùi Nguyên Thanh, 2013), Theo đó, vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp theo quan niệm ở Việt Nam và hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành thống kê, ngành nông nghiệp bao gồm vốn đầu tư để xây dựng nhà cửa, đầu tư thiết bị trong nông nghiệp, vốn đầu tư của các dự án xây dựng đê, kè sông biển, hồ chứa, kiên cố hoá kênh mương, giao thông nội đồng, xây dựng các trạm bơm, các dự án trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, đầu tư hạ tầng nuôi, trồng thuỷ sản, cảng cá, bến neo đậu, tránh trú tàu thuyền, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ, kỹ thuật trong nông nghiệp, nhập, lai tạo và sản xuất giống nông nghiệp, thú y, khuyến nông, đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực trong nôngnghiệp.
Tuy nhiên, các công trình đê, kè, hồ chứa là các công trình phục vụ chủ yếu dân sinh, hạ tầng kỹ thuật cho xã hội, bảo vệ gìn giữ môi trường, do vậy, khi tính toán các chỉ tiêu hiệu quả vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp về mặt kinh tế tác giả luận án không đưa vào khoản mục vốn Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp. Huy động vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp - Khái niệm về huy động vốn đầu tư: là hoạt động nhằm khai thác, thu hút các nguồn vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Huy động vốn đầu tư bao gồm tổng hợp các cơ chế, chính sách thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật- xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường. để thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ để sản xuất kinh doanh nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
- Huy động vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp: là quá trình tìm hiểu, xác định, định hướng, khai thác và đưa vốn vào hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật-xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường, nguồn nhân lực, các hoạt động Marketing thu hút đầu tư. để thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp. (Phạm Thị Khanh, 2003) Phân loại vốn đầu tư cho phát triển nôngnghiệp Hiện nay, căn cứ vào ngành, nghề, lĩnh vực, tính chất, các tác giả thường phânloại vốn đầu tư cho phát triển theo phạm vi rộng hay hẹp tuỳ vào nội dung nghiên cứu, chẳng hạn, theo nguồn vốn huy động có tác giảcho rằng bao gồm các nguồn vốn của dân cư, chính phủ, vốn tín dụng, vốn đầu tư nước ngoài, có tác giảđi sâu phân tích một loại vốn như vốn đầu tư khoa học công nghệ. Ngoài ra, vốn đầu tư có thể phân loại là vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tưgián tiếp.
Đầu tư trực tiếp là chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp đứng ra tổ chức hoạt động đầu tư, còn đầu tư gián tiếp là chủ sở hữu vốn thực không trực tiếp đứng ra thực hiện hoạt động đầu tư, mà thực hiện đầu tư thông qua người khác, cung cấp vốn cho các nhà đầu tư thực hiện đầu tư như thông qua các hoạt động mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,cho vay đầutư,… Theo tác giả vốn đầu tư cho phát triểnnông nghiệp được phân loại theo sơ đồ 1.2, được phân loại rất đa dạng theo nhiều tiêu chí khác nhau, nhiều nội dung khác nhau,. theo ngành gồm có nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, theo lãnh thổ gồm có: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, thành, huyện, thị, 9 theo nguồn vốn bao gồm vốn nhà nước, vốn viện trợ (ODA, NGO), nguồn vốn người dân, vốn doanh nghiệp, theo thời gian gồm có: vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn,.