Chương 1: Dat vấn đề Chương này nêu lên sự cần thiết của đề tài cần nghiên cứu, mục đích nghiên cứu e Chương 2: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Chương này nêu lên cơ sở lí luận như các khái niệm, một số chỉ tiêu tính toán về kết quả, hiệu quả sản xuất và các phương pháp nghiên cứu e Chương3: Tổng quan Trình bày về tình hình tổng quan của địa bàn nghiên cứu như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội cũng như các chỉ tiêu đạt được e Chương 4: Kết quả nghiên cứu va thảo luận Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ rau của nông hộ, đưa ra các kết quả hiệu quả sản xuất của một số loại rau chính sản xuất trên địa bàn, từ đó tìm ra những hạn chế trong sản xuất cũng như trong tiêu thụ nhằm đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất rau cũng như gia tăng diện tích sản xuất rau trên địa bàn e Chương 5: Kết luận - Kiến nghị Tổng kết những vấn đề chính trong phần nghiên cứu. Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đây sản xuất và tiêu thụ rau có hiệu quả hơn CHƯƠNG 2 CƠ SO LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm chung của ngành sản xuất rau Thời kì vườn ươm Đặc điểm nỗi bật của nghề trồng rau là hầu hết hạt giống rau đều được phải gieo ươm trước khi đưa ra ruộng sản xuất đại trà Như chúng ta đã biết, hầu hết các loại hạt giống rau đều rất nhỏ bé, nên phải qua gieo ươm. Khi gieo trên diện tích nhỏ sẽ thuận tiện cho quá trình chăm sóc.
Ngoài kỹ thuật gieo ươm truyền thống (gieo ngoài đất trồng) hiện nay có nhiều cách gieo ươm hạt đạt hiệu quả cao như gieo hạt trong bầu, gieo hạt vào khay, gieo hạt trong nhà lưới.Nếu làm được như vậy sẽ hạn chế được tác động của khí hậu thời tiết khắc nghiệt như nhiệt độ cao, mưa bão, ngập lut.Mat khác ở thời kì 1 — 3 lá thật hệ rễ yếu, khả năng hút nước và chất dinh đưỡng kém, diện tích lá nhỏ nên quang hợp kém. Ở thời kì vườn ươm, chúng ta cần chăm sóc hết sức cân thận, ty my hồi phục cây giống tốt để cuối cùng sẽ thu được một quan thé cây giống đạt tiêu chuẩn cao. Yêu cầu thời vụ nghiêm ngặt, chặt chẽ Rau là loại cây trồng rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hậu, thời tiết như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, yêu cầu thời vụ rất nghiêm ngặt. Thời vụ không thích hợp làm giảm năng suất và chất lượng.
Về nguyên tắc cần bố trí, sắp xếp thời vụ sao cho thời kì hình thành bộ phận sử dụng gặp được nhiều thuận lợi nhất. Song do nhu cầu của người tiêu dùng đối với rau xanh là quanh năm. Chính vì thế nhà vườn phải gieo trồng vào những lúc thời tiết, khí hậu bất thuận. Sản xuất rau trái vụ thường gặp nhiều rủi ro, năng suất và chất lượng rau kém hơn sản xuất chính vụ nhưng hiệu quả kinh tế lại cao nên đã kích thích tính tích cực của người trồng.
Nhiều sâu bệnh hại Rau là lọai cây trồng có chất dinh đưỡng phong phú, hàm lượng nước trong thân lá cao, thân lá non mềm nên là môi trường rất thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh sinh trưởng, phát triển trên cây rau. Sâu bệnh hại là một trong nhiều nguyên nhân là giảm năng suất, chất lượng và giá trị hàng hoá. Một loại rau có thể bị nhiều loại sâu bệnh hại, chúng phá hoại trong suốt chu kì sống của nó. Các cây trong họ cải trong thời gian sinh trưởng và phát triển có thể bị nhiều loại sâu phá hại như: sâu xanh, sâu tơ, sâu xám, bọ nhay.Vi vậy nhà vườn phải thực hiện nghiêm túc công tác quản lí dịch hại tổng hợp (IPM), cũng tức là thực hiện các biện pháp kĩ thuật liên hoàn như: chọn dùng giống kháng bệnh, luân canh, luân phiên cây trồng, bón phân hợp lí, cân đối, thời vụ thích hợp.
Khi phải sử đụng thuốc, tốt nhất nên dùng thuốc vi sinh hoặc thuốc thảo mộc trong sản xuất rau. Khi phải dùng thuốc BVTV cần tuân thủ những qui định của ngành BVTV, dùng những loại thuốc có tính độc hại thấp, độ phân giải nhanh Cây rau thích hợp với chế độ trồng xen, gieo lẫn trồng gối. Hầu hết các chủng loại rau có hình thái nhỏ bé, gọn, phân cành ít, có độ cao khác nhau. Thời gian sinh trưởng đài ngắn khác nhau, sự phân bố hệ rễ của từng loại rau cũng không giống nhau, vì vậy trên cùng đơn vị điện tích có thể bố trí nhiều loại cây trồng khác nhau cùng tồn tại sinh trưởng và phát triển.
Đây là biện pháp làm tăng năng suất trên đơn vị diện tích có hiệu quả kinh tế cao. Khi trồng xen, gieo lẫn trồng gối đối với cây rau cần chú ý một số vấn đề sau đây: - Thời gian sinh trưởng của các loại rau - Hình thái, độ cao, tập tính phân cành - Sự phân bố của hệ rễ trong đất - Yêu cầu các loại rau đối với ánh sáng khác nhau - Yêu cầu đối với các chất dinh đưỡng chú yếu e Yêu cầu kĩ thuật, nhân lực, kinh phí đầu tư trong sản xuất rau Rau là loại có thời gian sinh trưởng ngắn, muốn đạt năng suất cao, chất lượng tốt, cần phải thực hiện nhiều biện pháp kĩ thuật tiên tiến và hiện đại, áp dụng các công nghệ cao vào sản xuất cụ thể: - Đất đai phải cày bừa ki, tơi xốp, tầng canh tác dày. Trong quá trình sản xuất phải thực hiện nhiều khâu kĩ thuật liên hoàn - Các biện pháp chăm sóc phải thực hiện nhiều lần như: vun xới, diét trừ cỏ đại, tưới nước, tưới thúc. - Kỹ thuật chăm sóc đặc biệt: làm giàn, bấm ngọn, tỉa cành, tỉa hoa, tỉa quả, nụ, thụ phan.
- - Đầu tr cơ sở vật chất kỹ thuật cao: máy phun mua, nha lưới, nhà hộp P. - Áp dụng công nghệ cao vào sản xuất rau như: trồng không đất và thuy canh. - Thu hái nhiều lần Nhiều loại rau phải thu hái nhiều lần khi chín thương phẩm. Vì vậy cần nhiều công lao động thí dụ như: các cây trong họ cả, họ bầu, bí, họ đậu e Rau là ngành sản xuất hàng hoá Đặc điểm của hầu hết các loại rau là có hàm lượng nước trong thân lá cao, non, gion, dễ bị đập gãy.
Vì vậy từ các khâu: trồng tỉa, chăm sóc thu hoạch, vận chuyển, phân phối đến tận tay người tiêu dùng cần phải thực hiện theo dây chuyền sản xuất hàng hoá. Trong quá trình chăm sóc, thu hái phải hết sức cẩn thận, ty my, nhẹ nhàng. Các cơ quan chức nang cần phối hợp chặt chẽ với nhau để duy trì năng suất và chất lượng sản phẩm sau thu hái.Tầm quan trọng của ngành sản xuất rau Từ ngàn xưa ông cha ta có câu “Đói ăn rau, đau uống thuốc” điều đó nói lên răng rau là một loại thực phẩm quan trọng trong đời sống con người, rau là thành phần không thể thiếu được trong cơ cấu bữa ăn của mỗi gia đình. Theo sự phát triển đời sống xã hội nhiều nhà đỉnh dưỡng học của Việt Nam và thế giới nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam đã tính rằng hàng ngày chúng ta cần khoảng 2300 — 2500 calo năng lượng để sống và hoạt động.
Để có năng lượng này nhu cầu tiêu thụ rau hàng ngày trung bình cho một người là 250 — 300 g (khoảng từ 7,5 — 9 kg) cho 1 người/tháng. Còn nghiên cứu của nhà khoa học Pháp là 360 g/người/ngày (10,8 kg/người/tháng). Vậy rau có những tác dụng và giá trị gì mà quan trọng như thế? Có thể nói ngoài giá trị về mặt kinh tế thì rau xanh là nguồn dinh dưỡng không thê thay thế được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình Việt Nam, trong rau xanh có đủ các chất bổ dưỡng cần thiết cho cơ thể con người như khoáng chất, đường, vitamin.Có một số loại rau được coi như là thuốc kháng sinh đối với con người như cà rốt chống tiêu chảy, gừng, tỏi, các loại rau gia vi có thể dùng giải cảm tiêu độc. Ngoài lượng nước chiếm phần lớn thì các chất xơ có trong rau giúp chữa táo bón, giúp cơ thé dé tiêu hoá, phòng ngừa bệnh tim mạch, huyết áp cao.
Các loại đường đơn có trong rau làm tăng sự hấp thụ và lưu thông của máu, tăng kích hoạt hoá trong quá trình oxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Với nhiều loại vitamin nhưng mỗi loại đều có các chức năng sinh lí riêng, thiếu một loại nào đó đều làm cho cơ thé phát triển không bình thường và phát sinh nhiều bệnh tật. Ngoài ra rau quả còn là nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm như mứt bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây), nước giải khát, hương liệu, công nghệ đồ hộp.rau còn là nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi. Qui trình sản xuất chung của một số loại rau chính Bí.
Thời vụ: cò Bí mùa: gieo từ 25/1 đến 25/2, thu hoạch ăn quả non vào tháng 4 — 5, bí già dùng dự trữ thu hoạch cuối tháng 6 đầu tháng 7. Bí chiêm: gieo từ 25/6 đến 5/7. thu hoạch tháng 10 Làm dat ki, bí chiêm nên chọn đất thịt nhẹ thoát nước tốt. Luống trồng hàng đơn: Mặt luống rộng 70 — 80 cm, cao 25 — 35 cm, rãnh luống rộng 30 cm Luống trồng 2 hàng: Mặt hàng rộng 1,2 — 1,3 m, cao 25 — 35 cm, rãnh luống rộng 30 cm Bon lót cho 1 ha: 20 — 25 tấn phân chuồng + 200 kg super lân + 100 kg sunfat kali (8 — 9 ta phân chuồng + 7,5 kg super lân + 4 kg sunfat kali cho 1 sào) Gieo trồng: Khoảng cách luống đơn: Giữa các hốc cách 50 — 60 cm, luống trồng 2 hàng, hàng cách hàng 60 cm, hốc cách hốc 1 m, trồng theo kiểu nanh sấu mỗi hốc gieo 3 — 4 hạt.
Bảo dam mật độ 500 hốc/sào. Có thể gieo vào bầu làm đất xong mang ra trồng Chăm sóc: cò Từ lúc cây mọc đến lúc cây bò cần xới phá váng 2 — 3 lần kết hợp vun gốc cò Bón thúc vào 3 giai đoạn: e Lần 1: Lúc cây con có từ 4 đến 6 lá thật e Lan 2: Cây có nụ có hoa e Lần 3: Cây có quả rộ Lắp dây, nương dây, làm giàn: Khi cây bí dài 50 em thì lấy đất lắp lên ngang đốt, cứ cách 1 — 2 đốt thì lấp chặn dé cây ra nhiều rễ bat định, hướng ngọn bí bò từ hốc này sang hốc kia mới nương dây cho leo giàn.