Luận án TS: Nghiên cứu tác động, ứng phó và phục hồi sinh kế của hộ khai thác thuỷ sản ven biển bị ảnh hưởng bởi sự cố Formosa 2016 tại Thừa Thiên Huế

Luận án nghiên cứu tác động của sự cố môi trường Formosa 2016 lên sinh kế hộ khai thác thuỷ sản ven biển tại Thừa Thiên Huế. Phân tích phương pháp ứng phó và

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

189
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu tác động sự cố Formosa 2016

Sự cố môi trường biển Formosa năm 2016 là thảm họa sinh thái nghiêm trọng nhất tại miền Trung Việt Nam. Nhà máy Formosa Hà Tĩnh xả thải độc hại ra biển, gây cá chết hàng loạt dọc bốn tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế. Hàng nghìn hộ khai thác thủy sản ven biển chịu thiệt hại nặng nề. Sinh kế chính bị gián đoạn. Nguồn thu nhập cạn kiệt. Cộng đồng ngư dân rơi vào tình trạng bất an kéo dài. Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Truyền (2020) tại Đại học Huế tập trung đánh giá toàn diện tác động, năng lực ứng phó và quá trình phục hồi sinh kế của các hộ khai thác thủy sản tại Thừa Thiên Huế. Địa bàn nghiên cứu bao gồm xã Quảng Công, xã Phú Diên và thị trấn Lăng Cô. Đây là những vùng ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp. Nghiên cứu áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững và lý thuyết năng lực chống chịu xã hội. Phương pháp kết hợp định tính và định lượng. Kết quả cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng cho chính sách hỗ trợ ngư dân sau thảm họa môi trường biển.

1.1. Bối cảnh sự cố môi trường biển Formosa tại Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là tỉnh có đường bờ biển dài, đời sống ngư dân phụ thuộc lớn vào khai thác thủy sản. Sự cố Formosa tháng 4/2016 gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt lan đến vùng biển tỉnh này. Ngư dân phải ngừng ra khơi nhiều tháng liên tiếp. Nghề cá truyền thống bị tê liệt. Các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản đều đình trệ. Thiệt hại kinh tế ước tính hàng trăm tỷ đồng. Đời sống hàng nghìn hộ gia đình bị đảo lộn nghiêm trọng.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của luận án nghiên cứu

Luận án đặt ra ba mục tiêu chính. Thứ nhất, đánh giá mức độ tác động của sự cố Formosa đến sinh kế hộ khai thác thủy sản. Thứ hai, phân tích năng lực ứng phó và các chiến lược sinh kế mà hộ gia đình áp dụng. Thứ ba, đề xuất giải pháp phục hồi sinh kế bền vững. Ý nghĩa khoa học nằm ở việc bổ sung lý thuyết về phục hồi sau thảm họa môi trường biển tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách hỗ trợ ngư dân vùng thiên tai.

II. Phân tích tác động đến sinh kế hộ khai thác thủy sản

Tác động của sự cố Formosa lên sinh kế ngư dân Thừa Thiên Huế diễn ra trên nhiều chiều. Về kinh tế, thu nhập hộ gia đình giảm mạnh ngay sau sự cố. Nguồn lợi thủy sản suy thoái nghiêm trọng. Ngư dân không thể ra khơi đánh bắt. Giá trị sản lượng thủy sản giảm đáng kể. Về xã hội, cộng đồng ngư dân rơi vào trạng thái lo âu, bất ổn tâm lý kéo dài. Mâu thuẫn xã hội phát sinh khi quá trình đền bù diễn ra chậm trễ. Nhiều hộ phải chuyển đổi nghề nghiệp bất đắc dĩ. Một số lao động di cư lên thành phố tìm việc. Về sinh kế tự nhiên, hệ sinh thái biển bị ô nhiễm nặng. Đa dạng sinh học suy giảm. Nguồn lợi cá, tôm, mực phục hồi chậm. Đất nông nghiệp ven biển cũng bị ảnh hưởng do nước thải độc hại. Nghiên cứu chỉ ra rằng hộ nghèo và cận nghèo chịu thiệt hại nặng hơn nhóm giàu. Khoảng cách giàu nghèo gia tăng trong giai đoạn hậu sự cố.

2.1. Thiệt hại kinh tế và giảm thu nhập của ngư dân

Thu nhập bình quân hộ khai thác thủy sản giảm mạnh trong năm 2016. Nhiều hộ rơi vào nhóm thu nhập thấp hơn so với trước sự cố. Tỷ lệ hộ nghèo tăng khoảng 8%. Thiết bị đánh bắt như lưới, thuyền bị xuống cấp do ngừng sử dụng lâu ngày. Chi phí sinh hoạt vẫn duy trì trong khi thu nhập gần như bằng không. Các khoản nợ tích lũy đè nặng lên hộ gia đình. Quá trình đền bù từ Formosa diễn ra chậm, không bù đắp đầy đủ thiệt hại thực tế.

2.2. Tác động xã hội và đời sống cộng đồng ven biển

Sự cố Formosa gây ra hệ quả xã hội sâu rộng tại cộng đồng ngư dân. Sức khỏe tinh thần của ngư dân bị ảnh hưởng. Nỗi lo về an toàn thực phẩm thủy sản lan rộng. Quan hệ xã hội trong cộng đồng thay đổi. Mâu thuẫn phát sinh liên quan đến phân bổ đền bù. Giới trẻ rời bỏ nghề cá truyền thống. Phụ nữ gánh chịu áp lực kinh tế gia đình khi lao động chính mất việc. Năng lực chống chịu xã hội của cộng đồng bị thử thách nghiêm trọng.

III. Phương pháp ứng phó và chiến lược phục hồi sinh kế

Ngư dân Thừa Thiên Huế áp dụng nhiều chiến lược sinh kế để ứng phó với khủng hoảng. Chiến lược chuyển đổi nghề nghiệp được nhiều hộ lựa chọn. Một số ngư dân chuyển sang làm thuê trong ngành xây dựng, dịch vụ. Số khác tận dụng vốn liếng còn lại để kinh doanh nhỏ. Chiến lược đa dạng hóa thu nhập giúp giảm rủi ro. Nhiều hộ kết hợp đánh bắt xa bờ với nuôi trồng thủy sản. Hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng. Chính sách đền bù, hỗ trợ khẩn cấp giúp ngư dân trang trải chi phí cơ bản. Các dự án quốc tế cung cấp trang thiết bị, kỹ thuật mới. Mô hình hợp tác xã thủy sản được củng cố. Nghiên cứu chỉ ra rằng hộ có vốn xã hội cao phục hồi nhanh hơn. Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng là yếu tố then chốt. Đào tạo nghề và chuyển giao công nghệ giúp ngư dân thích ứng. Quá trình phục hồi đòi hỏi thời gian và nỗ lực phối hợp giữa nhiều bên liên quan.

3.1. Chiến lược sinh kế đa dạng của hộ ngư dân

Hộ khai thác thủy sản áp dụng ba nhóm chiến lược chính. Chiến lược duy trì: tiếp tục đánh bắt tại vùng biển an toàn hơn, chuyển đổi ngư cụ phù hợp. Chiến lược chuyển đổi: chuyển sang nuôi trồng thủy sản, kinh doanh dịch vụ du lịch biển, làm thuê trong ngành khác. Chiến lược tích lũy: tiết kiệm, bán tài sản, vay vốn để đầu tư lại. Mức độ đa dạng hóa phụ thuộc vào vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội của từng hộ gia đình.

3.2. Vai trò của hỗ trợ bên ngoài trong phục hồi sinh kế

Chính phủ triển khai chính sách đền bù, hỗ trợ khẩn cấp cho ngư dân bị ảnh hưởng. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế tham gia tích cực vào quá trình phục hồi. Dự án hỗ trợ bao gồm thay thế cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đánh bắt. Cung cấp kỹ thuật nuôi trồng thủy sản mới. Hỗ trợ khởi động lại hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhỏ. Mục tiêu dài hạn hướng đến phục hồi sinh kế bền vững. Kinh nghiệm từ dự án sau sóng thần Aceh 2004 được áp dụng tham chiếu.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn phục hồi sinh kế

Nghiên cứu xác nhận sự cố Formosa 2016 gây tác động đa chiều đến sinh kế hộ khai thác thủy sản Thừa Thiên Huế. Thiệt hại kinh tế là nghiêm trọng nhất. Tác động xã hội kéo dài dai dẳng. Năng lực chống chịu xã hội của cộng đồng ngư dân còn hạn chế. Quá trình phục hồi diễn ra chậm, không đồng đều giữa các nhóm hộ. Hộ nghèo phục hồi chậm hơn hộ giàu. Kết luận rút ra nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và kế hoạch ứng phó thảm họa môi trường biển. Thứ hai, chính sách hỗ trợ phải tiếp cận theo hướng sinh kế bền vững, không chỉ tập trung vào đền bù tài chính. Thứ ba, phát huy vai trò cộng đồng và mạng lưới xã hội trong quá trình phục hồi. Thứ tư, đào tạo chuyển đổi nghề phải đi đôi với hỗ trợ vốn và thị trường. Ứng dụng thực tiễn bao gồm đề xuất mô hình phục hồi sinh kế tích hợp cho vùng ven biển bị ô nhiễm. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quan trọng cho các tỉnh miền Trung trong ứng phó thảm họa môi trường tương tự.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế

Bài học lớn nhất là sinh kế bền vững phải dựa trên đa dạng hóa nguồn thu nhập. Phụ thuộc vào单一nguồn thủy sản khiến hộ gia đình dễ bị tổn thương. Vốn xã hội, tức mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, quyết định tốc độ phục hồi. Hộ có quan hệ xã hội rộng rãi tiếp cận thông tin và nguồn lực nhanh hơn. Chính sách hỗ trợ cần nhắm đúng đối tượng thiệt hại nặng nhất. Thời gian phục hồi trung bình từ ba đến năm năm đối với hộ nghèo.

4.2. Đề xuất mô hình phục hồi sinh kế bền vững cho vùng ven biển

Mô hình phục hồi sinh kế bền vững cần tích hợp bốn trụ cột. Trụ cột kinh tế: đa dạng hóa nghề nghiệp, hỗ trợ vốn ưu đãi, kết nối thị trường. Trụ cột xã hội: tăng cường năng lực cộng đồng, xây dựng quỹ hỗ trợ tương trợ. Trụ cột tự nhiên: phục hồi hệ sinh thái biển, giám sát chất lượng môi trường liên tục. Trụ cột thể chế: hoàn thiện chính sách bảo hiểm thủy sản, cơ chế đền bù nhanh chóng. Mô hình này áp dụng được cho các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án nghiên cứu tác động ứng phó và phục hồi sinh kế của hộ khai thác thuỷ sản ven biển bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển formosa 2016 tại thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự cố bất lợi, thảm họa 1. Khái niệm và phân loại Khi đề cấp đến khái niệm/định nghĩa về một sự cố bất lợi nào đó có tác động tiêu cực đến một cộng đồng dân cư. Kết quả tổng quan các tài liệu nghiên cứu cho thấy, có nhiều thuật ngữ tương đương để diễn tả về một sự cố bất lợi cho con người thông qua một hiện tượng cụ thể.

Ví dụ, sự cố bất lợi gây ra do thảm họa tự nhiên như lũ lụt, bão, động đất, sóng thần,… Những hiện tượng bất lợi như vậy có thể gọi đó là một sự cố bất lợi, sốc hay thảm họa. Cho đến nay, đã có nhiều học giả đưa ra định nghĩa về sốc. Theo EP-CBMS Network Coordinating Team (2011) [80], Sốc là một sự kiện có thể gây ra sự suy giảm về sức khỏe, nó có thể ảnh hưởng đến cá nhân (bệnh tật, tử vong), một cộng đồng, một khu vực, hoặc thậm chí là một quốc gia (thiên tai, khủng hoảng kinh tế vĩ mô). Khi một rủi ro cụ thể hóa, nó có thể trở thành một cú sốc, do vậy một cú sốc liên quan đến một rủi do gây ra một "ý nghĩa" tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe (ví dụ, mất thu nhập lớn, hoặc bệnh tật nặng liên quan đến chi phí) [86]).

Những cú sốc là những sự kiện có thể làm giảm sức khỏe cộng đồng hoặc sức khỏe cá nhân, như bệnh tật, thất nghiệp và có thể tự gây ra nghèo nàn về vật chất [107]. Những cú sốc giúp tham khảo việc thực hiện của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ví dụ về các cú sốc bao gồm sự xuất hiện của một trận động đất, chuyển động đáng kể về thương mại, hoặc cái chết của một thành viên trong gia đình [102]. Theo CRED: Thảm họa là "một tình huống hoặc sự cố vượt quá khả năng xử lý tại chỗ của địa phương, đòi hỏi phải có sự trợ giúp từ bên ngoài, của quốc gia hay quốc tế; nó thường xảy ra đột ngột, không lường trước, tạo ra sự nguy hại, tàn phá to lớn và sự đau khổ, tổn thất lớn về con người” (trích dẫn bởi Guha-Sapir, 2013)[84].

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Thảm họa là một sự cố xảy ra làm rối loạn các điều kiện sống bình thường và gây ra sự đau khổ, tổn thất vượt quá mức khả năng tự khắc phục của cộng đồng bị ảnh hưởng bởi thảm họa” (trích dẫn bởi Lim, 2018)[103]. Nhìn chung, từ những định nghĩa có thể thấy sự cố môi trường, sốc hay thảm họa là các thay đổi về tài nguyên môi trường và điều kiện kinh tế xã hội gây nhiều thiệt hại và tổn thương cho cộng đồng. Các thay đổi này có thể xảy ra một cách bất thường (nhanh, đột xuất) hoặc có xu thế từ từ và liên tục (Sự kiện gì? Thay đổi gì? Khi nào? Cộng đồng bị tổn thất thiệt hại như thế nào?…). Các sự cố, sốc hay thảm họa có liên quan đến một sự kiện thực tế, nó có thể gây ra sự mất mất về thu nhập cho nông hộ và nó kết nối với các rủi ro không chắc chắn.

Tuy nhiên, dựa vào các khái niệm đã được 5 phát biểu, chúng ta nhận thấy rằng khi gọi một sự cố bất lợi nào đó là thảm họa thì mức độ của nó là rất nghiêm trọng và việc ứng phó cần phải có sự trợ giúp bền ngoài và quốc tế. Xét về khía cạnh nguyên nhân gây ra sự cố, sốc hay thảm họa và cách phân loại giữa các các khái niệm cũng có những sự tương đồng nhất định. Theo EP-CBMS Network Coordinating Team (2011), [80] sốc thường được phân loại dựa trên phạm vi hoặc nguồn gốc. Phân loại sốc theo phạm vi: có thể phân loại shocks thành 2 loại: những cú sốc đặc tính (Idiosyncratic shock) và những có sốc hiệp biến (Covariant shock) [114].

Sốc đặc tính ảnh hưởng đến cá nhân hoặc hộ gia đình lớn, chúng bao gồm các cú sốc liên quan đến bệnh tật, chấn thương, chết, mất việc, mất mùa,… Mặt khác, những cú sốc hiệp biến ảnh hưởng đến các nhóm hộ gia đình, cộng đồng, khu vực hoặc thậm chí toàn bộ quốc gia, chúng bao gồm các cú sốc về: xung đột vũ trang, khủng hoảng tài chính, thay đổi ở giá thức ăn, hạn hán, lũ lụt, bất ổn xã hội,…. Phân loại sốc theo nguồn gốc: có thể phân loại sốc thành: sốc tự nhiên (lũ lụt, hạn hán, bão, động đất, phun núi lửa, sóng thần,…), sốc kinh tế (đóng của kinh doanh, sự tăng giá, mất việc, cắt giảm lương, mất mát kiều hối,…), sốc xã hội (chiến tranh, tội phạm, bạo lực) và sốc sức khỏe (dịch bệnh). Theo CRED thảm họa được phân thành các nhóm gồm: (1) Thảm họa do thiên nhiên/thiên tai (Natural disasters), (2) Thảm họa do công nghệ (Technological disasters), (3) Thảm họa do yếu tố xã hội (Social disasters), (4) Thảm họa do tình trạng khủng hoảng, khẩn cấp (Complex and failed states, Complex Emergency). Nhìn chung, cách phân loại theo các tổ chức, theo các khái niệm có sự khác nhau nhưng chung quy lại, cách phân loại phụ thuộc vào nguồn gốc, nguyên nhân gây ra sự cố bất lợi, sốc hay thảm họa.

Đối với sự cố môi trường biển Formosa (2016) diễn ra tại 4 tỉnh miền Trung, Việt Nam, được coi là sự cố bất lợi về môi trường và được định nghĩa theo Luật Bảo vệ Môi trường tại điều 3, khoản 10; “Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng". Sự cố môi trường có thể xảy ra do: (i) Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác; (ii) Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng; (iii) Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác; 6 (iv) Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ. Nghiên cứu này xem xét sự cố bất lợi/sốc do ô nhiễm môi trường biển Formosa (2016) là một sự cố môi trường được quy định theo Luật Bảo vệ Môi trường [21], sữa đổi và thi hành theo theo Nghị định số 40/2019/NĐ-CP [6], và thi hành theo Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT [4], xảy ra do phát triển các hoạt động công nghiệp làm ô nhiễm môi trường biển ở mức độ nghiêm trọng, có tác động đến sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng từ sự cố ô nhiễm môi trường này. Thiệt hại và tác động của sự cố, sốc và thảm họa đối với người dân Thiệt hại và tác động của sốc đối với người dân phụ thuộc vào đặc tính và nguồn gốc của các loại sốc.

Những sự cố/sốc hay thảm họa có nguồn gốc tự nhiên (lũ lụt, hạn hán, bão, động đất, phun núi lửa, sóng thần,. ) được gọi chung là nhóm sốc về khí hậu (Climate shocks). Theo Sinha và Lipton (1999), thuật ngữ “sốc” đã có một ý nghĩa rất cụ thể bao gồm: i) sự bất ngờ (nghĩa là biến động gây thiệt hại rủi ro đã xảy ra, mặc dù nó có xác suất thấp); ii) độ mạnh, iii) thiệt hại cao do tập trung vào những người có tính dễ bị tổn thương cao và khả năng phục hồi thấp; iv) nguồn ngoại sinh; và v) căng thẳng về thể chất hoặc tâm lý cho một hoặc nhiều cá nhân do sự căng thẳng đó. Do đó, thuật ngữ sốc khí hậu đã bao hàm những gì mà tài liệu thảm họa coi là thảm họa tự nhiên: những sự kiện vượt xa khả năng của một xã hội để đối phó với nó [47].

Lưu ý này chủ yếu đề cập đến thiên tai là những cú sốc khí hậu. Những cú sốc khí hậu có tác động ngay lập tức đến tài sản. Sự giàu có có thể bị tổn hại đáng kể do sự xuất hiện của các sự kiện khí hậu cực đoan, chẳng hạn như mưa, hạn hán, bão và các cú sốc khác liên quan đến thời tiết. Rõ ràng nhất, có những tác động trực tiếp gây ra bởi sự tiếp xúc vật lý của các sự kiện nguy hiểm này với con người và / hoặc tài sản dẫn đến tử vong, thương tích, gián đoạn các hoạt động kinh tế xã hội và thiệt hại hoặc phá hủy tài sản và tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác.

Các thương tích, khuyết tật và mất mạng do thiên tai gây ra là tác động đáng chú ý nhất đối với bất kỳ sinh kế nào và tài sản của họ, đặc biệt nếu điều này liên quan đến trụ cột gia đình hoặc bất kỳ thành viên nào trong độ tuổi lao động. Bởi vì người nghèo có xu hướng thiếu tài sản vật chất, và do đó lao động làm dưới mọi hình thức, bao gồm việc làm có lương chính thức, làm việc không chính thức để kiếm tiền, lao động không lương và chịu các chi phí sinh hoạt, vẫn là nguồn dễ tổn thương nhất mà họ phải đối mặt [71]. Theo nghĩa đó, các tác động tàn phá của cơn bão Mitch hoành hành ở Trung Mỹ năm 1998 và thảm họa sóng thần ở Ấn Độ Dương vào tháng 12 năm 2004 đã gây ra số người chết tương ứng: 10.000 người thiệt mạng và hàng triệu người vô gia cư (chủ yếu là do các thảm họa liên quan đến lũ lụt ở Honduras và Nicaragua), và hơn 200.000 7 người thiệt mạng và hơn 1,5 triệu người vô gia cư trong các thảm họa sóng thần (World Bank 2005 trích bởi [71]). Khi những cú sốc khí hậu tấn công nguồn lực con người cũng có thể đẩy con người vào tình trạng nghèo đói hiện tại.

Ở đây, tài sản nguồn lực của con người, sức khỏe nội tại, trở thành một phạm trù bổ sung cho tính đa chiều của nghèo đói giống như người nghèo với mức tiêu dùng hoặc thu nhập thấp. Ví dụ, sự gia tăng đáng kể sau trận lụt năm 1998 ở Bangladesh ngay cả sau khi nước lũ đã rút đi một phần hoặc toàn bộ: trong một mẫu của 757 hộ gia đình thu được từ một cuộc khảo sát nhiều vòng trong bảy khu vực bị ảnh hưởng bởi lũ lụt 9,6 % cá nhân bị tiêu chảy và 4,7 % bị ảnh hưởng bởi bệnh hô hấp trong giai sau của sốc [72].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ