ĐẶT VẤN ĐỀ Chương đặt vấn dé này cho chúng ta thấy sự cân thiết phải phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, nói lên mục đích nghiên cứu của để tài, phạm vi của dé tài nghiên cứu cũng như cấu trúc của đề tài nghiên cứu. Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 2 nêu lên các cơ sở lý luận để nghiên cứu và các phương pháp tiến hành nghiên cứu. Chương 3: TỔNG QUAN Chương tổng quan mô tả một cách khái quát nhất những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu có liên quan đến để tài nghiên cứu. Chương 4: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương kết quả nghiên cứu và thảo luận phan ánh toàn bộ nội dung nghiên cứu của dé tài.
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - Phần kết luận: Kết luận lại những vấn để chính được thể hiện trong phần nội dung nghiên cứu một cách khái quát nhất. - Phần kiến nghị: Người nghiên cứu đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy cho việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại xã Bình Ngọc được thông suốt hơn, hoàn thiện hơn, hiệu quả và bển vững hơn nữa. Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vai trò và tầm quan trọng của ngành sản xuất rau quả: 2.1 Vai trò của ngành rau trong sản xuất nông nghiệp: Theo số liệu thống kê diện tích trồng rau màu cả nước là 440,6 nghìn ha trong đó các cây rau 279 nghìn ha chiếm 3,3% diện tích gieo trồng cây hàng năm. Sản lượng rau thu hoạch trên điện tích này khoảng 3,3 triệu tấn.
Có 2 vùng sản xuất rau chính hiện nay: -Vùng rau chuyên canh ven thành phố, thị xã, và khu công nghiệp lớn. Ở đây rau được san xuất để phục vụ cho khu vực dân cư tập trung là chủ yếu. Diện tích vùng rau này chiếm 40 % (113 nghìn ha) nhưng sản lượng đạt 48% (1,5 triệu tấn) do năng suất cao hơn các vùng khác. -Vùng rau luân canh với cây lương thực: Được trồng chủ yếu trong vụ đông (tháng 10 - tháng giêng) tại các tỉnh thành phía bắc, ĐBSCL và Đông Nam Bộ.
Đây là vùng rau hàng bóa lớn diện tích và sản lượng phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ. Ngoài ra với hơn 10 triệu hộ nông dan ở nông thôn với diệních trồng rau gia đình bình quân 36 m”/ hộ gdm cả rau cạn và rau mặt nước, tổng sản lượng 4,5 - 4,6 triệu tấn / năm. Với khối lượng này bình quân lượng rau xanh tiêu thụ tính trên đầu người ở nước ta khoảng 65 kg hay 180 g/ người / ngày. Ở các thành phố và khu công nghiệp lớn lượng rau cung cấp không chỉ khá về số lượng mà tương đối phong phú vé chủng loại.
Nhiều chủng loại rau cao cấp, rau qua chế biến công nghiệp chiếm ti lệ nhất định và có chiều hướng gia tăng trong cơ cấu bữa ăn của người dân thành phố. Do ứng dụng các tiến bộ về giống và các biện pháp thâm canh, khối lượng rau trái vụ được sản xuất nhiều hơn rút ngắn thời gian khan hiếm rau giữa hai vu trồng là Đông xuân và Hè thu. Ngoài ra ngành trồng rau còn góp một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xuất khẩu trong suốt quá trình dài: Từ năm 1957 rau qủa Việt Nam đã có mặt ở Trung Quốc nhưng với khối lượng nhỏ. Thời kì 1986 - 1991 thực hiện hiệp định hợp tác giữa hai chính phu’ Việt Nam và Liên Xô về sản xuất chế biến rau quả, một khối lượng lớn rau quả đã được bán sang Liên X6.
Từ năm 1991 đến nay thị trường xuất khẩu rau có biến động nhiều. Mặt hàng có khối lượng lớn la` đưa chuộ‡ chế biến nấm, các san phẩm gia vị chế biến từ ớt, tdi, gừng.Theo dự báo những năm tới danh mục các loại rau của Việt Nam được thị trường nước ngoài mua nhiều 1a: dưa chuột, cà chua, măng tây, ngô rau, hành tây, nấm và các loại rau gia vị khác trong đó phân lớn sản phẩm đã qua chế biến. Theo đề án phát triển rau quả và hoa cánh thời kì 1999 - 2010 của bộ NNPTNT được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 03 / 09 / 1999 có xác định mục tiêu cho ngành sản xuất rau là “ Đáp ứng nhu cầu rau có chất lượng cao cho tiêu dùng trong nước nhất là các vùng rau tập trung (đô thị, khu công nghiệp.) và xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người 85 kg rau / năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD “.2 T 4m quan trọng của ngành sản xuất rau quả: Từ ngàn xưa Ông cha ta có câu: “Đói ăn rau ,đau uống thuốc“.
Điều đó nói lên rằng rau là một loại thực phẩm quan trọng trong đời sống của con người, rau là thành phần không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn của mỗi gia đình. Theo sự phát triển đời sống xã hội nhiều nhà đỉnh dưỡng học của Việt Nam và thế giới nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Nam đã tính rằng hàng. ngày dhủng ta cần khoảng 2300 - 2500 caio năng lượng để sống và hoạt động Để có được năng lượng này nhu cầu tiêu thụ rau hàng ngày trung bình cho một người là 250 - 300 g (khoảng 7,5 - 9 kg cho một người một tháng). Còn nghiên cứu của nhà khoa học Pháp, ông Dorolle là 360 g / người / ngày (10,8 kg / người /tháng ).
Vậy rau có những tác dụng và giá trị gì mà quan trọng như thế 2 Có thể nói ngoài giá trị về kinh tế thì rau xanh là nguồn dinh dưỡng không thể thay thế trong mỗi bữa ăn hàng ngày của người đân Việt Nam. Trong rau xanh có đủ các chất bổ dưỡng cần thiết cho cơ thể con người như khoáng chất, đường, vitamin. Có một số loại rau được coi như là thuốc kháng sinh đối với con người: cà rốt chống tiêu chảy, hành, gừng, tdi, các loại rau gia vị.có thể dùng để giải cảm tiêu độc. Ngoài lượng nước chiếm phần lớn thì các chất sơ có trong rau giúp chữa táo bón, giúp cơ thể dễ tiêu hoá, phòng ngừa bệnh tim mạch, huyết áp cao.
Các loại đường đơn có trong rau làm tăng sự hấp thụ và lưu thông của mau, tăng tính hoạt hoá trong quá trình 6xy hoá năng lượng của các mồ tế bào. Với nhiều loại vitamin những mỗi loại đều có các chức năng sinh lí riêng, thiếu một loại nào đó đều làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh nhiều bệnh tậc (Xem các phụ lục lvà 2). Ngoài ra rau qua còn là nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm: mức bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây.), giải khát (cà chua, cà rốt, rau má.), hương liệu (hạt mùi ta.), công nghệ đồ hộp (dưa chuột, cá chua, măng tây.), rau còn là nguồn thức ăn quan trọng phục vụ cho chăn nuôi.2 Khái niệm về rau an toàn: Những sản phẩm rau tươi bao gồm các loại rau ăn lá, rau ăn thân, ăn củ, ăn hoa, quả có chất tượng đúng như đặt tính giống của nó, hàm lượng các chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hạiở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, dam bảo an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm gọi tắt là rau an toàn (Theo điều 1 của quy định tạm thời về sdn xuất rau an toàn eae bộ NNPTNT ban hành kèm theo quyết định số 67 — 1998 / QD — BNN ~ KHCN ngày 28 / 04 / 1998).3 Tiêu chuẩn rau an toàn: Chỉ tiêu về nội chất: Sản phẩm rau được coi là sạch, an toàn về chất lượng thì các dư lượng sau đây: Dư lượng thuốc BVTV, dư lượng nitrát (NO3), dư lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây hại có trong rau không được vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn OMS / FAO (Xem các phụ lục 3, 4,5) Chỉ tiêu về bình thái: Rau phái tươi sạch bụi bẩn, tạp chất, không dập nát hư thối, không bị sâu Hai thu họach đúng độ chín (độ chín kĩ thuật và độ chín thương phẩm) — khi có chất lượng cao nhất, có bao bì vệ sinh hấp dẫn.4 Những quy định chung cho sản xuất rau an toàn: 2.1 Chọn đất: Đất để trong rau phải là đất cao, thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của rau, tốt nhất là đất cát pha hoặc thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình, có tầng canh tác dày 20 - 30 cm. Vùng trồng rau phải cách xa với khu vực có chất thải công nghiệp và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200 m.
Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nặng nhưng không được tổn dư hóa chất độc hại.2 Nước tưới: Vì trong rau xanh nước chứa trên 90 % nên nước tưới ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sắn phẩm do đó cần sử dụng nước sạch để tưới. Nếu có điều kiện nên sử dụng nước giếng khoang để tưới nhất là đối với các vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị. Nếu không có giếng cần dùng nước sông, ao, hd trong, không 6 nhiễm. Nước sạch còn được dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc BVTV.
Đối với các loại rau cho quả giai đoạn đâu có thể sử dụng nước bơm từ mương, sông, hé để tưới rãnh.3 Phân bón: Toàn bộ phân chuồng được ủ hoai mục và phân hữu cơ vi sinh được dùng để bón lót. Trung bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng + 300 kg lân hữu cơ | vi sinh cho một ha. Lượng phân hóa học tuỳ yêu cầu sinh lí của cây bón lót 30 % N + 50 % K. Số đạm va kali còn lại dùng để bón thúc.
Tuyệt đối không dùng phân chuồng chưa hoai để loại trừ vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng với các nhóm vi sinh vật trong thành phần phân vi sinh đang cần đạm để phân giải nốt phân chuồng tươi. Với những loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 60 ngày) bón thúc hai lần, kết thúc bón trước khi thu hoạch 7 — 10 ngày. Với các loại rau có thời gian sinh trưởng đài có thể bón thúc 3 — 4 lần, kết thúc bón phân hóa học trước khi thu hoạch 10 đến 12 ngày. Có thể sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng ngay khi mới bén rễ, có thể phun 3 — 4 lần tùy từng loại rau, nồng độ theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.
Kết thúc phun trước khi thu hoạch 5 — 10 ngày.