Chương 1: Giới thiệu Huyện Cầu Ngang là huyện thuần nông, là huyện nông thôn có diện tích đất canh tác thấp, ít ngành nghề phụ, do đó lao động trong huyện thường xuyên thiếu việc làm, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, đa số làm nông nghiệp, thường có thu nhập không cao, gặp các trở ngại trong sản xuất (được mùa mất giá hoặc ngược lại, bên cạnh đó thời tiết, thiên tai lại thường xảy ra, ô nhiễm môi trường hiện nay tăng cao dẫn đến khó nuôi trồng thủy sản. dễ bị thua lỗ). Nếu người nông dân chon lựa nghề nông thì cuộc sống thiếu ổn định. Ngoài nông nghiệp người dân có thể tham gia vào phi nông nghiệp.
Mặc dù phi nông nghiệp là những 123doc 5 ngành có lương cao (hạn chế rủi ro cho người dân) nhưng việc tham gia vào ngành nghề này owrt nông thôn còn thấp, đầu tư vốn cao.nên sức hấp dẫn của ngành này ở nông thôn chưa cao. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người lao động vào việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh” làm luận văn thạc sĩ. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Trong chương này giới thiệu về việc làm phi nông nghiệp; dân số, lao động, thiếu việc làm và thất nghiệp; đặc điểm về lao động, việc làm ở nông thôn; tình hình tạo việc làm ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm của một số nước như Thái Lan, Mông Cổ và bài học kinh nghiệm trong nước.
Bên cạnh đó, các mô hình lý thuyết về việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn như mô hình kinh tế hộ nông dân với hoạt động phi nông nghiệp; mô hình các yếu tố “kéo” và “đẩy” người lao động vào hoạt động phi nông nghiệp và các công trình nghiên cứu về việc làm phi nông nghiệp trong nước và quốc tế đã được đưa ra trong chương này. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Để thực hiện đề tài này tác giả luận văn đã tiến hành nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp chuyên gia và khảo sát thử. Sau đó tiến hành nghiên cứu chính thức thông qua phỏng vấn trực tiếp 90 hộ gia đình ở nông thôn huyện Cầu Ngang.
Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện nhằm mô tả tổng quát về tình hình việc làm nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn huyện Cầu Ngang. Ngoài ra, đề nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp cho người lao động ở nông thôn huyện Cầu Ngang, tác giả sử dụng mô hình Binary Logistic để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người lao động vào việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn huyện Cầu Ngang. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Ban đầu, tác giả thu thập các nghiên cứu trước và đề xuất được 14 yếu tố đưa vào mô hình như giới tính, số năm học của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, diện tích đất, số lượng thành viên, số năm học trung bình của những người trưởng thành, tổng thu nhập phi nông nghiệp, tổng thu nhập nông nghiệp, tham gia đào tạo nghề, hộ có 123doc 6 nước sạch, hộ có đường nhựa, tham gia tín dụng chính thức, tham gia tín dụng phi chính thức, muốn làm phi nông nghiệp. Trong 14 yếu tố đưa vào mô hình sau kiểm định cho thấy có 4 yếu tố có ảnh hưởng đến sự tham gia vào việc làm phi nông nghiệp.
Trong đó có 3 yếu tố ảnh hưởng nghịch chiều đó là diện tích đất, tổng thu nhập phi nông nghiệp và đường nhựa và 1 yếu tố ảnh hưởng cùng chiều đó là thu nhập nông nghiệp; 10 yếu tố còn lại không ảnh hưởng đến mô hình đó là giới tính, số năm học của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, số lượng thành viên, số năm học trung bình của những người trưởng thành, tham gia đào tạo nghề, hộ có nước sạch, tham gia tín dụng chính thức, tham gia tín dụng phi chính thức, muốn làm phi nông nghiệp. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người lao động vào việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn có những kết quả khác biệt so với giả thuyết ban đầu như sau: Ban đầu dự đoán 14 yếu tố có ảnh hưởng đến sự tham gia của người lao động vào việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn huyện Cầu Ngang như giới tính, số năm học của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, số lượng thành viên, số năm học trung bình của những người trưởng thành, tổng thu nhập phi nông nghiệp, tham gia đào tạo nghề, hộ có nước sạch, hộ có đường nhựa, tham gia tín dụng chính thức, tham gia tín dụng phi chính thức, muốn làm phi nông nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều và diện tích đất, thu nhập từ nông nghiệp có ảnh hưởng nghịch chiều đến sự tham gia của người lao động vào việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn huyện Cầu Ngang. Nhưng kết quả nghiên cứu đã đưa ra kết quả tương đối khác biệt đó là: có 4 yếu tố ảnh hưởng đến mô hình, trong 4 yếu tố có 3 yếu tố ảnh hưởng nghịch chiều và 1 yếu tố ảnh hưởng cùng chiều. Trong đó bao gồm tổng diện tích đất giống như giả thuyết ban đầu là ảnh hưởng nghịch chiều, tổng thu nhập từ phi nông nghiệp khác giả thuyết ban đầu là có ảnh hưởng cùng chiều nhưng khi kiểm định thì có ảnh hưởng nghịch chiều, hộ có đường nhựa có ảnh hưởng giống như giả thuyết ban đầu, tuy nhiên những người không có đường nhựa sẽ giảm khả năng tham gia vào việc làm phi nông nghiệp chứ kết quả chưa đủ bằng chứng để chứng minh hộ có đường nhựa làm tăng khả năng tham gia vào việc làm phi nông nghiệp, tổng thu nhập từ nông 123doc 7 nghiệp có tác động cùng chiều đến mô hình khác với giả thuyết ban đầu là có tác động nghịch chiều với mô hình.
Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất 4 giải pháp nâng cao công tác giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho lao động ở nông thôn huyện Cầu Ngang như: giải pháp về đất đai, đa dạng hóa sinh kế hoạt động phi nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp, hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn cho người lao động ở nông thôn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. 123doc 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Việc làm phi nông nghiệp Theo Quyết định 132/2000/QĐ-Ttg của Thủ tướng chính phủ ngày 24/11/2000 về phát triển hoạt động phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn, có xác định rằng: “hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn là tất cả các hoạt động công nghiệp, các ngành tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ, các dịch vụ sản xuất và đời sống được thực hiện ở nông thôn, sử dụng các nguồn lực tại địa phương và có liên hệ mật thiết và phát triển đời sống nông thôn”.1 Làng nghề Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. Theo đó, Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: (a) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (b) hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (c) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này. Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề (theo tiêu chí (a) và (b) trên đây) nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.2 Hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp Ngoài hình thức làng nghề, các hoạt động phi nông nghiệp còn bao gồm các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,… phục vụ nông nghiệp. Các ngành này bao gồm: a) Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn: Chế biến, bảo 123doc 9 quản nông, lâm, thuỷ sản; Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn; Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; b) Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; c) Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất và đời sống dân cư nông thôn.
Đối tượng áp dụng: a) Hộ gia đình, cá nhân; b) Tổ, nhóm hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Về chủ trương phát triển ngành nghề nông thôn: a) Nhà nước có quy hoạch và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn theo cơ chế thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông thôn, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; đồng thời có quy hoạch các cơ sở ngành nghề truyền thống phải gắn với phát triển ngành du lịch văn hóa. b) Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm ngành nghề nông thôn, nhất là các sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên trong nước (gỗ, mây, tre, lá.) nhằm hạn chế một phần tác hại đến môi trường của các sản phẩm chất thải hoá chất nhựa công nghiệp. c) Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách bảo vệ quyền lợi hợp pháp các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 1 của Quyết định này, nhất là ngành nghề truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc.
d) Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp, bảo vệ quyền sở hữu về tài sản, bí quyết công nghệ, phát minh sáng chế, bản quyền và quyền sở hữu công nghiệp, mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp của cá nhân, tổ chức đầu tư phát triển ngành nghề ở nông thôn.