Phần mở đầu: Giới thiệu chung Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và tài liệu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Chính sách đào tạo nghề đối với LĐNT nhóm nghề Nông nghiệp Chƣơng 3: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu luận văn. Chƣơng 4: Phân tích thực trạng Chính sách đào tạo nghề đối với lao động nhóm nghề Nông nghiệp tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2014. Chƣơng 5: Quan điểm, phƣơng hƣớng phát triển đào tạo nghề và khuyến nghị hoàn thiện Chính sách đào tạo nghề đối với LĐNT nhóm nghề nông nghiệp tại tỉnh Bắc Giang đến năm 2020. 6 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ TÀI LIỆU 1.
Các nghiên cứu nƣớc ngoài: Trong trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc các công ty, tập đoàn đa quốc gia có xu hƣớng đầu tƣ tại các nƣớc kém hoặc đang phát triển nhằm tận dụng các nguồn lực nƣớc bản địa nhƣ một tất yếu. Báo cáo của Ban giáo dục thuộc vụ đào tạo và chính sách giáo dục đào tạo nghề Hàn Quốc (tháng 5/2009) cho Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế Châu âu (OECD), tiêu đề: “Vocational Education and Training in Korea: Streghths, Challenges and Recommendations” - “ Giáo dục và đào tạo nghề của Hàn Quốc: Điểm mạnh, thách thức và đề xuất giải pháp”. Báo cáo này tập trung phân tích điểm mạnh của hệ thống đào tạo nghề Hàn Quốc, là một trong những quốc gia đƣợc đánh giá cao về lĩnh vực đào tạo nghề. Tại Hàn Quốc nhận thức xã hội về đào tạo nghề luôn đƣợc coi trọng ngang bằng với các ngành giáo dục khác nhƣ giáo dục đại học, Chính phủ luôn có chính sách khuyến khích đầu tƣ cho đào tạo nghề và vận động thực hiện công tác xã hội hoá đào tạo nghề thông qua sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo nghề.
Bên cạnh đó Hàn Quốc luôn chú trọng đào nghề chất lƣợng cao phù hợp với các tiêu chuẩn nghề quốc tế. Báo cáo này đã phân tích những yếu tố tác động đến giáo dục và đào tạo nghề của Hàn Quốc, từ đó chỉ ra: - Điểm mạnh: Trình độ giáo dục trong giới trẻ là rất cao, từ 25-34 tuổi đạt 97% hoàn thành giáo dục phổ thông và 53% có trình độ đại học; Giáo dục đƣợc đánh giá cao bởi tất cả các bộ phận của xã hội Hàn Quốc; Chính phủ cam kết tăng cƣờng sự tham gia sử dụng lao động trong xây dựng chính sách và thực hiện ĐTN; Các ngành học ĐTN phát triển tốt; khoảng 32% sinh viên đại học đang theo học tại các trƣờng cao đẳng và trƣờng cao đẳng nghề. - Điểm yếu: Mặc dù có các hƣớng dẫn của Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ (MEST), các đơn vị ĐTN tƣ thục thƣờng tự phát triển chƣơng trình giảng dạy của họ để đáp ứng lao động cho nhu cầu thị trƣờng. Điều này dẫn đến sự chồng 7 z chéo trong phát triển chƣơng trình đào tạo; cơ sở đào tạo tƣ thục chƣa đáp ứng yêu cầu; giáo viên dạy nghề đƣợc đào tạo nhƣng họ thƣờng thiếu kinh nghiệm làm việc thực tế trong lĩnh vực đang giảng dạy; Phối hợp giữa các bộ ngành phụ trách chính sách ĐTN yếu.
- Giải pháp: Tăng cƣờng cải cách thể chế để tăng cƣờng sự tham gia của các Bộ ngành; Cải thiện việc cung cấp, chất lƣợng và tính phù hợp của đào tạo tại nơi làm việc ban đầu bằng cách tăng cƣờng khuyến khích quan hệ đối tác giữa các tổ chức ĐTN và doanh nghiệp bằng cách phát triển và thực hiện các tiêu chuẩn chất lƣợng; Khuyến khích giáo viên ĐTN mới tuyển phải có kinh nghiệm làm việc; Yêu cầu tất cả các tổ chức ĐTN đảm bảo các giáo viên thƣờng xuyên cập nhật các kỹ năng của họ trong lĩnh vực dạy nghề; chú trọng hơn nữa phần hƣớng nghiệp. Tham luận uỷ ban liên hiệp thanh niên Châu âu về: “Chính sách giáo dục và đào tạo nghề” đƣợc công bố tại diễn đàn thanh niên Châu âu (YFJ), tổ chức tại Brussels, vƣơng quốc Bỉ ngày 23-24/4/2010. Tham luận đã đƣa ra những vấn đề quan trọng trong đào tạo nghề và những giải pháp chích sách liên quan. Tham luận cũng chỉ rõ nhu cầu của nền kinh tế tri thức, đòi hỏi một xã hội học tập lâu dài.
Đƣa ra quan điểm của ngƣời lao động trẻ tuổi về nhu cầu đƣợc đào tạo các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong đó có nghề nông nghiệp. Tham luận đƣa ra khái niệm về đào tạo nghề và thực trạng tại các nƣớc Châu âu. Tác giả: Peter Pozorski (năm 2011) trong bài nghiên cứu tiêu đề: “ Technical and Vocational Training in Thailand” - “ Đào tạo nghề, đào tạo kỹ thuật tại Thái Lan”. Nghiên cứu này tổng hợp những kinh nghiệm triển khai công tác đào tạo nghề ở Thái Lan.
Theo đó hệ thống giáo dục đào tạo nghề ở Thái Lan bao gồm 2 mảng riêng biệt: Đào tạo nghề chính quy và không chính quy. Đƣợc coi là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ Thái Lan, công tác đào tạo nghề đƣợc quản lý dựa trên những chính sách tƣơng ứng và bởi các cơ quan quản lý nhà nƣớc thuộc Chính phủ. Thái Lan xây dựng các chính sách đào tạo nghề dựa trên mô hình hợp tác về đào tạo nghề với Cộng hoà liên bang Đức, thông qua một loạt các mô hình điểm hƣớng đào tạo nghề vào kết hợp giữa khu vực công và khu vực tƣ nhân. Luật đào tạo nghề của 8 z Thái Lan là cơ sở xây dựng những chính quốc gia tầm vĩ mô, trong đó thay đổi cấu trúc của các cơ quan quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề.
Giáo sƣ Phil Portter (năm 2011) trong báo cáo “ Khái quát về chính sách đào tạo nghề của Trung Quốc”, tác giả đã nêu nên vai trò của Chính phủ Trung Quốc trong cải cách chính sách đào tạo nghề, phân tích những thành tựu đã đạt đƣợc, đồng thời chỉ ra các tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của tồn tại hạn chế, từ đó tác giả đƣa ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo nghề tại Trung Quốc là tiếp tục tập trung cải cách, đầu tƣ vào lĩnh vực đào tạo nghề từ những kinh nghiệm học tập từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Báo cáo đã nêu bật những thành công của Chƣơng trình cải cách Dạy nghề của Trung Quốc gồm: Phát triển thể chế và chính sách; Tăng cƣờng năng lực và tuyển dụng; Tăng quỹ đầu tƣ cho ĐTN và cấu trúc tài chính ổn định; Tạo cơ hội bình đẳng và hỗ trợ tài chính; Tăng cƣờng số lƣợng và chất lƣợng ĐTN; Phát triển ĐTN nông thôn. Việc phân cấp trách nhiệm cải cách giáo dục ĐTN ở Trung Quốc đã mang lại nhiều thành công quan trọng Ngày 14/09/2015 tại thành phố Brisbane, thành phố thủ phủ và là thành phố đông nhất của bang Queensland, Úc đã diễn ra một hội thảo giới thiệu Đề án Đào tạo nghề từ xa (RVTS). Đề án đào tạo nghề từ xa cung cấp một chƣơng trình đào tạo nghề cho các học viên về y tế cộng đồng cho thổ dân và dân đảo Torres Strait và các cộng đồng vùng sâu vùng xa trên khắp nƣớc Úc.
RVTS là chƣơng trình giáo dục nghề từ xa đƣợc hỗ trợ đăng ký thông qua từ xa và giám sát từ xa, cho phép học viên hành nghề độc lập và có thể theo học ở bất kỳ vị trí nào trên khắp nƣớc Úc. Các chƣơng trình bốn năm cho phép các bác sĩ đƣợc đào tạo những nghề trong khi họ tiếp tục cung cấp dịch vụ y tế nói chung cho cộng đồng của họ. Tức là hình thức vừa học vừa làm theo nhu cầu thực tế. Các nghiên cứu trong nƣớc: * Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận, tìm hiểu, phân tích nội hàm về đào tạo nghề Tác giả Lê Hồng Thái, trong Đề tài khoa học cấp bộ năm 2002 với tiêu đề: "Nghiên cứu vấn đề lao động việc làm nông thôn".
Đề tài đã phân tích thực tiễn và 9 z chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới chuyển dịch chậm lao động trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn là: phân bố dân cƣ không đồng đều giữa các vùng, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu ngƣời quá thấp và có xu hƣơng ngày càng thu hẹp dƣới tác động của đô thị hóa, CNH, HĐH điều này khiến cho ngƣời LĐNT gặp nhiều khó khăn trong tích lũy đất đai cho sản xuẩt nông nghiệp, phi nông nghiệp. Bên cạnh đó chất lƣợng nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, mặt bằng dân trí không cao khả năng tiếp nhận kiến thức, kỹ năng nghề còn chậm dẫn tới khả năng chuyển đổi nghề còn thấp. Đề tài chƣơng trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nƣớc năm 2009 do PGS. TS Lê Xuân Bá làm chủ nhiệm đề tài tiêu đề: "Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và đô thị hoá ở nƣớc ta".
Đề tài tập trung phân tích chuyển dịch cơ cấu LĐNT và thị trƣờng LĐNT. Các yếu tố ảnh hƣởng đến cung - cầu lao động nông nghiệp, nông thôn. Các yếu tố ảnh hƣởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp nông thôn ở nƣớc ta trong những năm gần đây, tập trung phân tích thực trạng tạo việc làm phi nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các loại nghề nghiệp ở các vùng hoặc giữa các vùng khác nhau trong cả nƣớc. Dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa ở nƣớc ta đến năm 2020.
Đề xuất định hƣớng các giải pháp, chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn, theo yêu cầu CNH, HĐH và đô thị hóa. Nguyễn Thị Hƣơng Lan (năm 2012): “Nghiên cứu những khó khăn của người lao động nông thôn tỉnh Hải Dương trong tiếp cận cơ hội học tập suốt đời”. Đề tài Cấp Viện Mã số: V2011 – 09. Nội dung đề án tác giả đề cập, phân tích những khó khăn của ngƣời lao động ở nông thôn tại tỉnh Hải Dƣơng trong tiếp cận cơ hội học tập suốt đời nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục cho mọi ngƣời và xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2011-2020.
Luận văn Thạc sỹ kinh tế: "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Điện Bàn - Quảng Nam". Chuyên ngành: Kinh tế phát triển; mã số: 60.05; tác 10 z giả: Phan Văn Bình (Năm 2012). Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn của LĐNT và đào tạo nghề.