CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Như đã đề cập, việc làm hiện nay đã trở thành một vấn đề bức thiết của xã hội đòi hỏi phải có những giải pháp kịp thời và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn. Cũng chính vì lý do đó mà cho đến thời điểm này đã có một số lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề việc làm, trong đó có một số công trình liên quan đến vấn đề mà tác giả đang quan tâm. Xét về tổng thể có thể thấy được hai nhóm nghiên cứu chính sau: * Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về việc làm: - PGS. TS Trần Văn Chử (chủ nhiệm), “ Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, thực hiện năm 2001.
- Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa, “ Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam”, tr 23 – NXB sự thật, Hà Nội 1991. - Đinh Đăng Định (chủ biên), “Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống của người lao động Việt Nam hiện nay”, NXB lao động Hà Nội, năm 2004. Lê Quốc Lý – Lê Văn Cương, “Hội nhập Kinh tế quốc tế và vấn đề việc làm ở Việt Nam” Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 24 (440) tháng 12/2008. -… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã xây dựng cơ sở lý luận về thị trường lao động; đề cập tới một số vấn đề có tính lý luận chung về nguồn lao động trên cơ sở đó chỉ ra mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm trong quá tŕnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,…từ đó đã đề xuất hệ thống các quan điểm, phương hướng 3 cũng như các giải pháp tạo việc làm và thu nhập trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cũng như hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, các đề tài trên chỉ đề cập tới lao động, việc làm nói chung chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu phân tích việc làm ở nông thôn - một lực lượng đông đảo, chiếm hơn 70% lực lượng lao động hiện nay ở nước ta. Do đó, các giải pháp tạo việc làm cho người lao động thường không tập trung nhiều đến các nhóm đối tượng này để giải quyết. * Nhóm các công trình nghiên cứu về việc làm, giải quyết việc làm và thu nhập trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong phạm vi cả nước, hoặc gắn với các địa phương xác định, gồm: - TS. Nguyễn Xuân Khoát, “Lao động, việc làm và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam”, NXB Đại học Huế, Huế năm 2007.
- Lương Mạnh Đông 2005 - 2008, “Giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của LĐNT huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” – Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp, Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên, năm 2008. TS Nguyễn Thị Thơm (chủ biên), “Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009. - Nguyễn Công Thiện 2007 – 2010 “Giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất ở thành phố Huế” - Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp, Đại học kinh tế Huế, năm 2010. - Trần Ngọc Tình 2008 – 2011 “Nghiên cứu lao động, việc làm ở khu vực nông thôn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” - Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, năm 2011.
-… Xét về phạm vi và đối tượng nghiên cứu, có thể chia các công trình này thành hai nhóm nhỏ, mỗi nhóm đặt đối tượng nghiên cứu ở mức độ và trạng thái vận động khác nhau. Một là, nhóm công trình có phạm vi rộng ở cấp tỉnh (thành phố), khu vực hoặc trong một lĩnh vực kinh tế xác định. Trạng thái mà khi các công trình này 4 nghiên cứu là khi nền kinh tế vận động bình thường. Do đó, các giải pháp được đưa ra ở các công trình này thường mang tính chiến lược cao, lâu dài, có phạm vi rộng cho tất cả các nhóm đối tượng lao động xã hội ở nông thôn.
Hai là, nhóm công trình có phạm vi nhỏ ở cấp huyện trở xuống; đối tượng nghiên cứu trong trạng thái động gắn với những biến động nhất định về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của người lao động như: quá trình đô thị hóa,…Do vậy, giải pháp đưa ra thường hướng đến một nhóm đối tượng cụ thể trong phạm vi thời gian và không gian xác định. Tuy nhiên, các nhóm công trình nghiên cứu trên tuy đều đề cập đến lao động nông thôn nhưng đối tượng nghiên cứu lại tập trung ở mảng việc làm chứ chưa có công trình nào đề cập đến đủ cả hai đối tượng nghiên cứu là việc làm và thu nhập của LĐNT. Tóm lại, vấn đề việc làm và thu nhập của LĐNT đã có nhiều công trình đề cập, nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu việc làm và thu nhập cho LĐNT trên địa bàn một huyện trong sự vận động bình thường của nền kinh tế; cũng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ hai phạm trù việc làm và thu nhập của LĐNT; cũng như chưa có công trình nào lấy địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định làm địa bàn nghiên cứu. Từ đó, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, tác giả đã tập trung nghiên cứu những nét đặc thù kinh tế - xã hội và những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của LĐNT.
Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp tạo việc làm và thu nhập cho đối tượng này ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.2 Một số khái niệm về việc làm và thu nhập của lao động nông thôn 1.1 Khái niệm về lao động và lao động nông thôn Khái niệm về lao động Về khái niệm lao động, Các Mác cho rằng: “ Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên tức là cho bản thân sự sống của con người” [2, 61]. Ănghen: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cái. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thànhh của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điệu kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [3, 641].
Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau nhưng suy cho cùng, lao động theo nghĩa chung nhất thì đó là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Hoạt động lao động không những biến đổi tự nhiên mà còn hoàn thiện, phát triển ngay cả bản thân con người. Trong quá trình lao động con người tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện cả thể lực và trí lực. Khái niệm về lao động nông thôn So với nhiều nước trong khu vực và thế giới, Việt Nam có nguồn lao động ở khu vực nông thôn khá đông, đó là một trong những lợi thế rất lớn cho một nước mà giá trị các sản phẩm nông nghiệp vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân.
LĐNT có thể hiểu là những người sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam 15 - 60 tuổi; nữ 15 - 55 tuổi) có khả năng lao động. Có thể nhận thấy một thực tế rằng, LĐNT không chỉ dừng lại ở số người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, mà còn có cả những người trên và dưới độ tuổi lao động, bởi lẽ do đặc thù của công việc ở khu vực nông thôn mà lực lượng tham gia lao động đông đảo và nhiều độ tuổi như vậy. Đây chính là một trong những lợi thế nhưng đặt ra không ít những thách thức trong việc giải quyết việc làm cho bộ phận lao động ở nông thôn nước ta hiện nay.2 Khái niệm về việc làm Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động bởi cuộc sống của bản thân và gia đình họ phụ thuộc rất lớn vào thu nhập từ việc làm. Khi nghiên cứu về vấn đề này, đã có nhiều khái niệm được đưa ra của các tổ chức cũng như cá nhân trong và ngoài nước.
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO: “Việc làm có thể được định nghĩa như là một tình trạng trong đó có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào sự nỗ lực sản xuất” [4, 314]. Như vậy, quan niệm trên có thể được hiểu là mọi hoạt động, công việc tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật cho phép hay không đều được xem là việc làm. Ở nước ta, khái niệm việc làm được quy định tại điều 13, chương 2 Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [1, 42] Theo quan niệm trên thì tất cả mọi hoạt động lao động sản xuất không giới hạn ở các lĩnh vực của đời sống xã hội, đem lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm đều được gọi là việc làm. Quan niệm trên về việc làm là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Trong xã hội hiện nay, người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập cho bản thân. Ở đây người lao động được tự do hoạt động, tự do liên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động theo pháp luật Nhà nước để tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội.