Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÀNH HÀNG LỢN THỊT 1.1 Lý luận về ngành hàng lợn thịt 1.1 Một số khái niệm * Ngành hàng: Lý luận của Fabre cho rằng, ngành hàng ñược coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng. Như vậy ngành hàng ñã vạch ra sự kế tiếp của các hành ñộng, xuất phát từ ñiểm ban ñầu tới ñiểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai ñoạn của quá trình gia công, chế biến ñể tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức ñộ của người tiêu thụ (Phạm Vân ðình, 1999)[35]. Như vậy, "Mỗi ngành hàng là một chuỗi các tác nghiệp (quá trình gia công chế biến), chuỗi những tác nhân và cũng là chuỗi những thị trường. ðiều ñó kéo theo những luồng vật chất và những bù ñắp bằng giá trị tiền tệ" (Phạm Vân ðình, 1999) [35].
Nói ñến ngành hàng ta hình dung ñó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có ñiểm ñầu và ñiểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố ñộng, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm ñi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tốt (hay xấu) tới các yếu tố khác. Ta có thể xem xét sự dịch chuyển ñó theo 3 dạng sau: - Sự dịch chuyển về mặt thời gian: sản phẩm ñược tạo ra ở thời ñiểm này lại ñược tiêu thụ ở thời ñiểm khác. Sự dịch chuyển này giúp ta ñiều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ.
ðể thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm. - Sự dịch chuyển về mặt không gian: trong thực tế, sản phẩm ñược tạo ra ở nơi này nhưng lại ñược dùng ở nơi khác. Ở ñây ñòi hỏi phải nhận biết ñược các kênh phân phối của sản phẩm. Sự chuyển dịch này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế ………………………….
6 phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và ñó là cơ sở không thể thiếu ñược ñể sản phẩm trở thành hàng hoá. ðiều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ. - Sự chuyển dịch về hình thái của sản phẩm: hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác ñộng của công nghệ chế biến. Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó ñược phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình ñộ chế biến.
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới ñược tạo ra. Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì "Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô hình ñơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt ñộng tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức ñiều tiết" (Phạm Vân ðình, 1999) [35]. Như vậy, ñể một ngành hàng phát triển ở mức ñộ cao, có chỗ ñứng trên thị trường, ñáp ứng ñược yêu cầu của xã hội, ñem lại lợi ích cho người sản xuất - kinh doanh thì việc nghiên cứu, phân tích ngành hàng có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và cho từng ngành, từng loại sản phẩm nói riêng.
* Tác nhân: Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt ñộng kinh tế, ñộc lập và tự quyết ñịnh hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt ñộng kinh tế của họ. Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm ñể chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt ñộng. Ví dụ tác nhân "nông dân" ñể chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; Tác nhân "thương nhân" ñể chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; Tác nhân "bên ngoài" chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích.
Tên các tác nhân ñược ghi trong một hình chữ nhật, trong ngành hàng các tác nhân có mối quan hệ với nhau và có thể miêu tả quan hệ giữa các tác nhân theo một Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế …………………………. 7 sơ ñồ ñơn giản sau: Hộ Hộ Hộ Hộ Hộ SP thô SPchế biến SP bán buôn SP bán lẻ sản chế bán bán tiêu Thông tin Thông tin Thông tin Thông tin xuất phản hồi biến phản hồi buôn phản hồi lẻ phản hồi dùng Sơ ñồ 1. Mối quan hệ giữa các tác nhân trong ngành hàng Với các hoạt ñộng kinh tế riêng của mình, các tác nhân này thực hiện từng nội dung chuyển dịch trong các chuỗi hàng khác nhau. Hộ sản xuất là tác nhân ñầu tiên trong ngành hàng, họ sử dụng những nguyên liệu ban ñầu ñể tạo ra sản phẩm thô, có thể bán cho tiêu dùng trực tiếp hoặc thông qua công ñoạn gia công chế biến.
Hộ chế biến là tác nhân sử dụng các sản phẩm của hộ sản xuất, bằng công nghệ, kỹ thuật, bí quyết. ñể tạo ra sản phẩm mới ñáp ứng thị hiếu ña dạng của người tiêu dùng. Hộ bán buôn là tác nhân không tạo ra sản phẩm mới, họ mua hàng với số lượng lớn rồi tiếp tục bán lại cho người khác cũng với số lượng lớn. Hộ bán lẻ là tác nhân mua hàng lại từ hộ bán buôn ñể bán trực tiếp cho hộ tiêu dùng.
Các sản phẩm từ hộ bán lẻ thường là sản phẩm hoàn thiện cuối cùng trong ngành hàng. Hộ tiêu dùng là tác nhân tiêu dùng các sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, ranh giới giữa các tác nhân là không rạch ròi, nhiều khi ñan xen với nhau. Ví dụ, một hộ bán buôn, họ có thể kết hợp với bán lẻ hàng hoá ñó và thậm chí tiêu dùng chính sản phẩm ñó.
Trên thực tế có một số tác nhân chỉ tham gia vào một ngành hàng nhất ñịnh và có nhiều tác nhân có mặt trong nhiều ngành hàng của nền kinh tế quốc dân. Có thể phân loại các tác nhân thành một số nhóm tuỳ theo bản chất hoạt ñộng chủ yếu trong ngành hàng như sản xuất của cải, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ, hoạt ñộng tài chính và phân phối. Giữa các tác nhân thường có mối quan hệ, liên kết với nhau ở mức ñộ mạnh, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế …………………………. 8 yếu tùy thuộc từng ngành hàng cụ thể.
Các mối liên hệ này không chỉ diễn ra theo một chiều mà luôn luôn tồn tại thông tin phản hồi. Nếu luồng thông tin phản hồi không ñược thông suốt, mức ñộ minh bạch trong sản xuất, kinh doanh sẽ bị hạn chế, các hiện tượng ép giá, ñộc quyền. sẽ dễ xảy ra. * Chức năng Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt ñộng kinh tế riêng, ñó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng.
Một tác nhân có thể thực hiện một lúc nhiều chức năng. Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân. Ví dụ hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn. Một tác nhân có thể có một hay vài chức năng.
Ví dụ: hộ nuôi lợn nái kiêm lợn thịt thì có 2 chức năng là sản xuất lợn con và lợn thịt. * Sản phẩm Trong ngành hàng, mỗi tác nhân ñều tạo ra sản phẩm riêng của mình. Trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng, sản phẩm của mọi chức năng khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả của hoạt ñộng kinh tế, là "ñầu ra" của quá trình sản xuất kinh doanh của từng tác nhân. Sản phẩm của tác nhân trước là chi phí trung gian của các tác nhân kề sau nó.
Chỉ có sản phẩm của tác nhân cuối cùng trước khi ñến tay người tiêu dùng mới là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng. Do tính chất phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính. * Mạch hàng Mạch hàng chứa ñựng quan hệ kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt ñộng chuyển dịch về sản phẩm. Qua từng mạch hàng, giá trị của sản phẩm ñược tăng thêm và do ñó giá cả cũng ñược tăng thêm do các khoản giá trị mới sáng tạo ra ở từng tác nhân.
ðiều ñó thể hiện sự ñóng góp của từng tác nhân trong việc tạo nên giá trị gia tăng của cả ngành hàng. Mỗi tác nhân có thể tham gia vào nhiều mạch hàng. Mạch hàng càng phong phú, quan hệ giữa các tác nhân càng chặt chẽ. ðiều ñó cũng có nghĩa là nếu có một vướng mắc nào ñó làm cản trở sự phát triển của mạch hàng nào ñó thì sẽ gây ảnh Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế ………………………….
9 hưởng có tính chất dây chuyền ñến các mạch hàng ñứng sau nó và sẽ ảnh hưởng chung ñến hiệu quả của luồng hàng và toàn bộ chuỗi hàng. * Luồng hàng Những mạch hàng liên tiếp ñược sắp xếp theo trật tự từ tác nhân ñầu tiên ñến tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên các luồng hàng trong một ngành hàng. Luồng hàng thể hiện sự lưu chuyển các luồng vật chất do kết quả hoạt ñộng kinh tế của hệ thống tác nhân khác nhau ở từng công ñoạn sản xuất, chế biến và lưu thông ñến từng chủng loại sản phẩm cuối cùng. Chủng loại sản phẩm cuối cùng càng phong phú thì luồng hàng trong một ngành hàng càng nhiều.
ðiều ñó có ý nghĩa lớn trong quá trình tổ chức và phát triển sản xuất vì sự luân chuyển của luồng vật chất qua từng tác nhân trong các luồng hàng ñã làm cho mọi tác nhân trong ngành hàng trở thành người sản xuất sản phẩm hàng hoá. * Luồng vật chất Luồng vật chất bao gồm một tập hợp liên tiếp những sản phẩm do các tác nhân tạo ra ñược lưu chuyển từ tác nhân này qua tác nhân khác kề sau nó trong từng luồng hàng. Ví dụ: quả tươi từ hộ sản xuất ñến hộ chế biến, sản phẩm chế biến từ hộ chế biến ñến hộ bán buôn rồi bán lẻ.