CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, tăng trưởng về kinh tế gắn với công bằng xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những mục tiêu hàng đầu trong công cuộc đổi mới đất nước. Với mục tiêu này, TCVM ở Việt Nam đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong việc tăng cường hỗ trợ tài chính thông qua việc từng bước đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn vay và các dịch vụ tài chính để phát triển kinh tế, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và các hộ gia đình thu nhập thấp. Hoạt động TCVM hướng tới các hộ gia đình có thu nhập thấp các khoản vay nhỏ, nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Việt Nam là đất nước nông nghiệp, phần lớn dân số thu nhập còn thấp, do đó, việc phát triển các DVTCVM là một trong những giải pháp tích cực để hỗ trợ người dân tạo thu nhập và cải thiện đời sống.
Hiện nay, cùng với Ngân hàng Chính sách xã hội (được thành lập trên cơ sở đề xuất của Agribank năm 1995 về thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo và được tách ra từ Agribank), Quỹ hỗ trợ nông dân (trực thuộc Trung ương Hội Nông dân Việt Nam), Agribank là một trong những kênh chính thức cung cấp sản phẩm DVTCVM. Với mạng lưới rộng khắp trên cả nước gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch có mặt khắp mọi vùng miền, vùng sâu vùng xa, huyện đảo… và tiên phong, chủ lực trong triển khai các chương trình tín dụng chính sách, cũng như huy động vốn linh hoạt, ưu tiên chuyển tải vốn từ địa bàn thành thị về nông thôn, Agribank đã mở rộng hoạt động TCVM trên toàn quốc với số lượng khách hàng lớn đứng thứ 3 sau NHCSXH và các Quỹ TDND. Đến 31/12/2017, tổng nguồn vốn của Agribank đạt 1.798 tỷ đồng, trong đó tiền gửi huy động tiết kiệm từ dân cư là 853. Tổng dư nợ đầu tư nền kinh tế đạt 876.497 tỷ đồng, trong đó, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn là 645.367 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 73,6% tổng dư nợ nền kinh tế, tập trung vào đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình với tổng dư nợ cho vay là 605.612 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 69,1% tổng dư nợ nền kinh tế, với 3.681 khách hàng, chiếm tỷ trọng 99,4% tổng số khách hàng trên toàn hệ thống Agribank.
Với nguồn vốn đầu tư cho “Tam nông” chiếm 51% thị phần toàn ngành ngân hàng đầu tư cho lĩnh vực này, Agribank khẳng định vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn. Trong suốt 30 năm hình thành và phát triển Agribank đã không ngừng nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho khách hàng, nhiều người dân trên cả nước đã được tiếp cận nguồn vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển sản xuất, có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. luan an 2 Tuy nhiên, so với các TCTD khác ở Việt Nam và một số NHTM nước ngoài, sự phát triển của DVTCVM của Agribank còn bộc lộ một số điểm hạn chế như các dịch vụ cung cấp còn đơn giản không tương xứng với tiềm năng phát triển, chưa có một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý các hoạt động của TCVM,… Trong bối cảnh phát triển tài chính toàn diện đang phát triển thành xu thế phổ biến, ngoài các hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu nhập lớn các NHTM trong đó có Agribank cần phải quan tâm phát triển các dịch vụ, thực hiện tốt hơn nữa trách nhiệm của doanh nghiệp, vì vậy phát triển DVTCVM là một đòi hỏi tất yếu của các NHTM. Với mong muốn góp phần giúp Agribank có thể thực hiện tốt hơn nữa vai trò chính trị của mình - là NHTM chủ đạo phát triển nông nghiệp nông thôn - NCS đã lựa chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ tài chính vi mô của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” làm đề tài luận án của mình.2 Tổng quan các công trình đã công bố và khoảng trống nghiên cứu 1.1 Tổng quan các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận án TCVM được biết đến từ những năm 1970 và đến những năm 1980 thì đã có sự phát triển mang tính bước ngoặt bởi sự ra đời của Ngân hàng Grameen tại Banglades.
Từ đó tới nay có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực này và có thể hệ thống thành các nhóm như sau: 1.1 Các nghiên cứu về phát triển tài chính vi mô và vai trò của tài chính vi mô Jonathan Morduch (1999), The Microfinance Promise (Sự hứa hẹn của Tài chính Vi mô), Journal of Economic Literature, Vol. 1569-1614 lại nhận xét một cách lạc quan rằng việc cho vay những hộ gia đình thấp đã đem lại lợi nhuận cho TCTCVM vì người nghèo có thể tiết kiệm khi có động lực tiết kiệm, và điều này gợi ra cách giải quyết việc thiếu vốn của người nghèo có thể giải quyết bằng cách tạo điều kiện để người nghèo có thể thực hiện tiết kiệm được thay vì chỉ tập trung vào vấn đề TDVM cho người nghèo. Báo cáo của Hội thảo “Thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện thông qua các chính sách đổi mới“được thực hiện bởi Nhóm Tư vấn về Xây dựng Năng lực Hệ thống của APEC, Hội đồng Tư vấn Doanh nghiệp APEC, Viện Ngân hàng Phát triển Châu Á, và Liên minh Phát triển Tài chính Toàn diện, tháng 3-4/2009, TCVM được khẳng định là một công cụ để giải quyết vấn đề người nghèo mà đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn thiếu sự tiếp cận với dịch vụ tài chính. Sự phát triển của TCVM phải gắn liền với công nghệ mới và những sáng kiến mới về tài chính, phải tăng sự luan an 3 đa dạng hóa của các TCTCVM, và phải có các cải cách chính sách.
Báo cáo cũng cho rằng giữa các nền kinh tế ở châu Á và khu vực Thái Bình Dương cần phải có sự phối hợp trong khu vực để hỗ trợ các nền kinh tế trong việc tạo ra được môi trường lành mạnh cho việc phát triển tài chính toàn diện thông qua các chính sách mới. Hà Hoàng Hợp,Th.s Nguyễn Minh Hương, Th.s Ngô Thị Minh Hương (2008), “Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Tài chính vi mô và tiếp cận của người nghèo ở nông thôn”, Báo cáo chính của Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CEDI), đã tiến hành phân tích các thách thức của toàn cầu hoá, WTO và của những chính sách có thể tác động toàn diện đến TCVM cả về chính sách lẫn thực tiễn. Báo cáo cũng mô tả quá trình phát triển DVTCVM và đưa ra ví dụ về hoạt động của mộtsố TCTCVM ở Việt Nam bằng phương pháp nghiên cứu toàn diện gồm tổng hợp tài liệu, phân tích số liệu và trao đổi ý kiến với những người tham gia tín dụng, báo cáo nghiên cứu đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội, những gì còn thiếu trong chính sách về TCVM, đưa ra một số khuyến nghị đối với giới hoạch định chính sách và các nhà hoạt động thực tiễn về TCVM ở Việt Nam trong thời gian sau hội nhập (sau 2006). Báo cáo có giá trị về mặt lý luận; một số đánh giá vẫn còn nguyên giá trị: khẳng định các TCTCVM vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người nghèo; Nhu cầu của người nghèo, đặc biệt ở nông thôn và các vùng xa về DVTCVM rất đa dạng.
Báo cáo có thể được coi là cơ sở để các nhà nghiên cứu tham khảo tư liệu để so sánh, đối chiếu với số liệu cập nhật. Trong bối cảnh môi trường pháp lý cho ngành TCVM đã có nhiều thay đổi thì những chính sách đưa ra ở báo cáo này không còn phù hợp ví dụ báo cáo nhận định; Khung giám sát và pháp lý vẫn khổng rõ ràng và hạn chế; Hai tổ chức tài chính chính thức chi phối việc cung cấp tài chính nhỏ ở Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam,. Trong Kỷ yếu hội thảo Quốc gia “Phát triển Tài chính vi mô tại Việt Nam” (2009) (do Quỹ Citi Foundation, Học viện Ngân hàng, Nhóm công tác Tài chính vi mô đồng tổ chức) các bài viết và ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế đã nêu ra các nội dung của TCVM, những đặc điểm, vai trò của TCVM trong hệ thống tài chính quốc gia, vai trò của TCVM đối với cuộc chiến chống nghèo đói trên thế giới và Việt Nam cũng như thực trạng phát triển của TCVM ở nước ta, những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình hướng tới sự phát triển bền vững và đề xuất các giải pháp phát triển TCVM trong thời gian tới. luan an 4 Trong nghiên cứu của PGS.
Nguyễn Kim Anh, PGS. Ngô Văn Thứ, PGS. Lê Thanh Tâm và ThS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, “Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam - Kiểm định và so sánh”, (2011), bằng phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ khách hàng (đối tượng nghèo mà nhóm nghiên cứu đề cập đến là những người nghèo nhất “có sổ” tại Hải Dương và Tiền Giang) của ba tổ chức chính trên thị trường là NHCSXH, QTDND và các TCTCVM, nhóm nghiên cứu đã tập trung cung cấp thông tin về hoạt động TCVM Việt Nam; Tác động của TCVM đối với giảm nghèo ở Việt Nam thông qua kết quả kiểm định và so sánh trên cơ sở đó đã đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị khi nhìn lại qua trình hình thành, phát triển và những đóng góp của TCVM Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động TCVM Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển.
Năm 2012, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã có nghiên cứu đánh giá đặc biệt của Vụ Đánh giá độc lập “Chiến lược Phát triển TCVM“ dựa trên việc đánh giá các hoạt động hỗ trợ 21 nước thành viên trong lĩnh vực TCVM. Đánh giá này đã chỉ ra rằng những nỗ lực của ADB trong việc giúp các quốc gia đang phát triển về TCVM đã đáp ứng được nhu cầu phát triển của các quốc gia này. ADB đã tạo ra những chuyển biến tích cực ở tầm vĩ mô trong việc nới lỏng những hạn chế chính sách và khung thể chế. Theo báo cáo, việc cải thiện môi trường chính sách và thương mại hoá TCVM đã không đem lại sự tiếp cận sâu rộng hơn tới người nghèo.