lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam Chi nhánh Quảng Bình. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam Chi nhánh Quảng Bình. 5 van PHẦN II.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đ c điểm của cho vay tiêu d ng 1.1 Khái niệm cho vay tiêu d ng Cho vay đƣợc xem là hoạt động chủ đạo của các NHTM Việt Nam. Hoạt động cho vay có thể đƣợc hiểu là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, ta hiểu cho vay tiêu d ng là việc ng n hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định đ sử dụng cho mục đích tiêu d ng, sinh ho t và các nhu c u phục vụ đời sống khác.[21] Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp ngƣời vay trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể đƣợc tài trợ bởi CVTD.
Nhƣ vậy, bằng việc CVTD các ngân hàng sẽ giúp các cá nhân, hộ gia đình thoả mãn nhu cầu trƣớc khi họ có khả năng chi trả. Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro vỡ nợ tƣơng đối cao. Tuy nhiên cuộc sống ngày càng phát triển kéo theo đó nhu cầu của con ngƣời cũng ngày càng tăng cao. Nhu cầu cho vay tiêu dùng gia tăng mạnh mẽ 6 van gắn liền với các hàng tiêu dùng lâu bền nhƣ nhà, xe, đồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch, du học… đối với lực lƣợng khách hàng rộng lớn.
Hơn nữa một số tầng lớp ngƣời tiêu dùng có thu nhập khá và ổn định, có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Thêm vào đó nhiều hãng lớn tự tài trợ chủ yếu bằng hình thức phát hành cổ phiếu và trái phiều, nhiều công ty tài chính cạnh tranh với ngân hàng trong cho vay làm thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng giảm sút. Do đó đã buộc các ngân hàng phải hƣớng tới ngƣời tiêu dùng nhƣ là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong những hình thức cho vay tăng trƣởng nhanh nhất ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển.
Đ c điểm của cho vay tiêu d ng tại NHTM 1. Số lƣợng các khoản vay tiêu d ng thƣờng lớn nhƣng quy mô các khoản vay nhỏ Cho vay tiêu dùng là hình thức ngân hàng tài trợ cho các mục đích tiêu dùng, sinh hoạt… của khách hàng nên giá trị khoản vay thƣờng nhỏ. Khi có nhu cầu mua sắm tiêu dùng, khách hàng thƣờng có các khoản tiết kiệm từ trƣớc. Chỉ khi có thiếu hụt, họ mới tìm đến ngân hàng để bù đắp phần còn thiếu ấy.
Chính vì vậy, quy mô của các khoản cho vay tiêu dùng thƣờng nhỏ hơn so với các khoản cho vay khác. Cho vay tiêu dùng có đối tƣợng khách hàng chủ yếu là cá nhân và hộ gia đình. Cùng với đó, kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân cũng ngày càng tăng lên. Do đó mà số lƣợng các khoản vay tiêu dùng thƣờng tƣơng đối lớn ở hầu hết các ngân hàng.
Chi phí quản lý món vay tiêu d ng lớn Trong danh mục cho vay của ngân hàng, cho vay tiêu dùng đƣợc xem là khoản mục cho vay có chi phí cao nhất. Vì: đối với mỗi món vay, ngân hàng đều phải bỏ chi phí để thẩm định, giải ngân, kiểm tra giám sát khoản vay, thu nợ. đây là quy trình bắt buộc của hoạt động cho vay, không thể cắt bớt. Mặt khác, khách hàng lại thƣờng là cá nhân nên việc thu thập thông tin khách hàng thƣờng gặp nhiều khó khăn, độ chính xác lại không cao, quy mô món vay tiêu dùng thƣờng nhỏ hơn rất nhiều so với quy mô món vay kinh doanh nên chi phí quản lý trên một đồng vốn huy động đƣợc từ 7 van mỗi món vay lớn hơn so với món vay kinh doanh.
Vì vậy việc quyết định cấp tín dụng, kiểm tra, giám sát và thu nợ cũng tốn kém nhiều chi phí của ngân hàng. Ngoài ra, do cho vay tiêu dùng là một hình thức mới phát triển gần đây. Cho nên để thu hút khách hàng cũng nhƣ quảng bá hình ảnh của ngân hàng, ngân hàng thƣờng phải tiến hành các chƣơng trình quảng cáo để giới thiệu các sản phẩm dịch vụ của mình tới khách hàng. Đây cũng là một yếu tố góp phần làm cho chi phí của các khoản cho vay tiêu dùng thƣờng cao.
Là hình thức cho vay có độ rủi ro cao Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cho vay có rủi ro rất cao, cao hơn cho vay kinh doanh. Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau: Thứ nhất, rủi ro về lãi suất: Do đặc điểm cho vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất không linh hoạt, đối với các khoản cho vay ngắn hạn thƣờng áp dụng lãi suất cố định, đối với các khoản cho vay trung và dài hạn thƣờng 1 năm mới thực hiện điều chỉnh lãi suất. Do đó, đối với ngân hàng dễ gặp phải rủi ro về lãi suất khi lãi suất cho vay trên thị trƣờng có xu hƣớng gia tăng trong tƣơng lai. Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thƣờng có sự thoả thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi tức là lãi suất đƣợc điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay.
Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất đối với cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay tiêu dùng. Thứ hai, cho vay tiêu dùng dễ gặp rủi ro đạo đức của khách hàng. Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của ngƣời đi vay. Tuy nhiên đối với những khách hàng cá nhân này có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hƣởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng sức khoẻ của ngƣời đi vay, tình trạng công việc làm ăn không tốt … ảnh hƣởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan nhƣ hạn hán mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao…cũng là những nguy cơ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Lãi suất cho vay tiêu d ng thƣờng cao Có hai yếu tố để xác định lãi suất cho vay đó là chi phí khoản vay, độ rủi ro. Theo hệ thống tính toán thì khoản mục cho vay tiêu dùng có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng.
Vì vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng cao hơn lãi suất các loại cho vay khác. Khi đƣa ra mức lãi suất cho vay tiêu dùng, các ngân hàng thƣờng phải dự tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào sẽ biến đổi nhƣ thế nào để làm căn cứ xác định lãi suất cho vay tiêu dùng. Do vậy mà lãi suất của khoản cho vay tiêu dùng thƣờng không linh hoạt nhƣ các khoản cho vay khác với lãi suất thoả thuận, tuỳ thuộc vào sự thay đổi của thị trƣờng. Tuy nhiên, đây vẫn đƣợc coi là khoản mục cho vay mang lại lợi nhuận khá cao cho ngân hàng.
Nhu cầu vay tiêu d ng của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trƣởng, mọi ngƣời lạc quan về tƣơng lai, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, nhu cầu vay tiêu dùng cũng tăng lên. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng lên thì ngƣời dân sẽ có xu hƣớng tiết kiệm nhiều hơn, theo đó nhu cầu vay tiêu dùng cũng giảm. Chất lƣợng các thông tin khách hàng cung cấp cho ngân hàng thƣờng không cao Hiện nay, ở nƣớc ta việc theo dõi lịch sử tín dụng của các cá nhân và doanh nghiệp vay vốn các Công ty tài chính và Tổ chức tín dụng là một việc rất khó, đặc biệt với các khách hàng cá nhân (Đối với các khách hàng doanh nghiệp thì việc xác định các thông tin tài chính sẽ dễ dàng hơn bởi có nhiều yếu tố nhƣ báo cáo tài chính,báo cáo kết quả kinh doanh.mà doanh nghiệp đó phải công bố rộng rãi cùng với các dự án xin vay ngân hàng phải rõ ràng đƣợc ngân hàng phê duyệt), là khách hàng nhỏ nhƣng nhiều với các khoản vay nhỏ vì thế nhiều khách hàng đã có dƣ nợ tại tổ chức tín dụng khác nhƣng không đƣợc cập nhật trong hệ thống thông tin tín dụng CIC dẫn đến ngân hàng thiếu thông tin khi ra quyết định cho vay, hoặc sẽ dẫn đến cho vay chồng chéo trong khi khách hàng không đủ khả năng trả nợ.7 Các khoản cho vay tiêu d ng có lãi suất chƣa linh hoạt.
Khách hàng vay tiêu dùng thƣờng ít nhạy cảm với lãi suất, họ thƣờng chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh đƣợc điều chỉnh lãi suất theo lãi suất thị trƣờng, lãi suất cho vay tiêu dùng thƣờng đƣợc ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất đƣợc ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung dài hạn, lãi suất cho vay thƣờng đƣợc điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng.