CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Một số vấn đề về ngân hàng và hoạt động của ngân hàng 1.1 Khái niệm về ngân hàng Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng. Có nhiều cách tiếp cận với cách hiểu ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại có thể hiểu theo những quan điểm sau: Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng thương mại. Một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 – LTC/HĐNN8 ngày 23/5/1990, ngân hàng thương mại là "tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán".
Theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12/12/1997 và sửa đổi năm 2004, "ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác". "Hoạt động ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán". Như vậy, thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận.2 Các loại ngân hàng Dựa vào hình thức sở hữu: 7 - Ngân hàng vốn Nhà nước: Là tổ chức tài chính do chính phủ hoặc cơ quan nhà nước sở hữu và quản lý.
Chính phủ có thể can thiệp vào quản lý và quyết định chiến lược kinh doanh, với mục tiêu duy trì ổn định tài chính, kiểm soát lạm phát, và hỗ trợ chính sách kinh tế của quốc gia. - Ngân hàng vốn nước ngoài: Là ngân hàng do nhà đầu tư hoặc tổ chức tài chính nước ngoài sở hữu và quản lý. Chúng có thể là chi nhánh hoặc công ty con của ngân hàng quốc tế, cung cấp dịch vụ tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp trong nước và được hỗ trợ từ các thị trường quốc tế. - Ngân hàng vốn tư nhân: Là tổ chức tài chính thuộc sở hữu và quản lý của cá nhân hoặc tổ chức tư nhân.
Chúng không phụ thuộc vào chính phủ và hoạt động với mục tiêu tạo lợi nhuận, cung cấp dịch vụ như tiền gửi, cho vay, thẻ tín dụng, và thanh toán cho cá nhân và doanh nghiệp. - Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên. Ở Việt Nam, loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau. Dựa vào loại hình công ty: - Ngân hàng cổ phần: Là loại ngân hàng có vốn chia thành cổ phiếu, mỗi cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn theo số cổ phiếu sở hữu.
Ngân hàng này thường có quy mô lớn và niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán. - Ngân hàng TNHH: Là ngân hàng mà trách nhiệm của các thành viên hoặc cổ đông giới hạn ở mức vốn đã đầu tư. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm với số vốn đã đóng góp, không phải toàn bộ tài sản cá nhân. - Ngân hàng TNHH MTV: Là loại hình ngân hàng không phổ biến, tổ chức dưới dạng công ty TNHH một thành viên.
Thành viên duy nhất chịu trách nhiệm hữu hạn với số vốn đã đầu tư, không chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ khác của ngân hàng. Dựa vào chiến lược kinh doanh: - Ngân hàng hoạt động theo mục đích ngoại thương: là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấp dịch vụ tài chính hỗ trợ cho các hoạt động thương mại và giao dịch quốc tế, bao gồm tài trợ thương mại, quản lý rủi ro tài chính và hỗ trợ doanh nghiệp quốc tế. - Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn: là các tổ chức tài chính chủ yếu cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính đặc biệt cho người dân và doanh 8 nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và vùng nông thôn, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội tại các khu vực này. - Ngân hàng hoạt động theo lĩnh vực đầu tư và phát triển: là các tổ chức tài chính hoặt động với mục tiêu hỗ trợ và tài trợ cho các dự án và hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm hỗ trợ doanh nghiệp và đầu tư vào các dự án phát triển.
- Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho các tập đoàn và công ty, chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. - Ngân hàng bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho khách hàng cá nhân. - Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả công ty và cá nhân. Hầu hết các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thuộc loại hình này.
Chức năng của ngân hàng ➢ Chức năng trung gian tín dụng: - Ngân hàng huy động vốn và tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo nguồn vốn cho vay, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh tế. Ngân hàng "mua tiền" và "bán tiền," lợi nhuận chủ yếu đến từ chênh lệch giữa giá mua và bán. - Chức năng này có ý nghĩa điều hòa vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt, giảm vốn nhàn rỗi trong xã hội và thúc đẩy sự luân chuyển của vốn tiền tệ. Chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại, giúp kinh doanh và tăng lợi nhuận, cũng như tạo "bút tệ." - Đối khách hàng gửi tiền tăng khả năng sinh lời và đảm bảo an toàn vốn, trong khi người vay tiền kịp thời có vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, tiết kiệm chi phí và thời gian tìm kiếm nguồn vốn an toàn, hợp pháp.
➢ Chức năng trung gian thanh toán: - Trên cơ sở hoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng thương mại (NHTM) cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Thay vì thanh toán trực tiếp, doanh nghiệp và cá nhân có thể nhờ NHTM thực hiện việc này dựa trên khoản tiền họ đã gửi. NHTM chuyển 9 tiền từ người phải trả sang người được hưởng bằng nhiều hình thức với kỹ thuật tiên tiến và thủ tục đơn giản. - Chức năng này có ý nghĩa lớn với nền kinh tế, giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế.
- Chức năng trên là nền tảng để NHTM tạo ra tiền ghi sổ, tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế, tiết kiệm tiền mặt lưu thông và chi phí lưu thông tiền tệ, đồng thời phát triển nhiều dịch vụ ngân hàng khác. Chức năng thanh toán cũng tăng uy tín của ngân hàng thông qua các dịch vụ được mở rộng. ➢ Chức năng tạo tiền: - Chức năng tạo tiền không chỉ giới hạn trong việc in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước. Các ngân hàng thương mại, khi thực hiện chức năng của mình, cũng có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Đây là một phần của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch. - Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng thương mại có thể tạo ra số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi, được tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán. - Chức năng tạo tiền dựa trên hai chức năng khác của ngân hàng thương mại: tín dụng và thanh toán.
Khi ngân hàng cho vay, số tiền này được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ, trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng vẫn được coi là tiền giao dịch. Chức năng này tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán của xã hội. Tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy mà còn bao gồm tiền ghi sổ do ngân hàng thương mại tạo ra, cho thấy mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Việc cho vay của ngân hàng thương mại làm tăng khả năng tạo tiền và lượng tiền cung ứng.3 Đặc điểm ngân hàng thương mại NHTM là một loại hình doanh nghiệp vì nó ra đời là để kinh doanh, mục đích hoạt động là vì lợi nhuận, với cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động như một doanh nghiệp, bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, tự chủ về tài chính và có nghĩa vụ đóng thuế cho ngân sách Nhà nước.
10 Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, nét đặc biệt được thể hiện: - Lĩnh vực kinh doanh: Tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, liên quan chặt chẽ đến mọi ngành kinh tế và đời sống xã hội, chịu sự kiểm soát của Nhà nước. - Nguồn vốn: Chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài, vốn riêng chiếm tỷ trọng thấp. - Tài sản: tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ rất thấp mà chủ yếu là tài sản vô hình như kỳ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng, và các giấy tờ có giá trị. - Chính sách tiền tệ: Hoạt động chịu sự chi phối lớn từ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.