BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHƢƠNG TRÌNH KHCN PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2016-2020 KỶ YẾU HỘI THẢO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM CHUYÊN ĐỀ 2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Nam Định, 7/2019 1 luan an MỤC LỤC Báo cáo đề dẫn phiên chuyên đề “phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn”. 1 Xây dựng chuỗi giá trị gắn với thị trƣờng trong bối cảnh hội nhập. 7 Chuyển dịch lao động việc làm nông thôn việt nam hiện nay: thực trạng, định hƣớng và giải pháp. 16 Phát huy vai trò của khoa học công nghệ trong xây dựng nông thôn mới.
46 Thực trạng hệ thống logistics phục vụ chuỗi giá trị nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới. 63 Đẩy mạnh thực hành nông nghiệp tốt nhằm nâng cao chất lƣợng và an toàn thực phẩm. 74 Phát triển du lịch nông thôn: thực trạng, điển hình và kiến nghị. 82 Phát triển các mô hình sinh kế nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu.
91 Cải thiện môi trƣờng kinh doanh hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp nông nghiệp. 107 2 luan an BÁO CÁO ĐỀ DẪN PHIÊN CHUYÊN ĐỀ “PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN” TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn1 I. Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Lý luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông thôn cho thấy tăng trƣởng kinh tế của các quốc gia thƣờng đi liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Trong quá trình đó, nông nghiệp thƣờng là lĩnh vực tiên phong trong quá trình đổi mới, nền tảng trong quá trình phát triển, trụ đỡ trong các giai đoạn khủng hoảng của nền kinh tế.
Xu hƣớng phát triển nông nghiệp, nông thôn đó là tăng quy mô sản xuất, rút lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, thay đổi cơ cấu sản phẩm nông nghiệp, tăng chế biến và giá trị gia tăng của sản phẩm, sử dụng nguồn lực một cách hợp lý và phù hợp theo hƣớng tăng hàm lƣợng vốn, khoa học công nghệ, giảm hàm lƣợng sử dụng lao động và sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên (đất đai, nƣớc, tài nguyên tự nhiên khác)… Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn trong nền kinh tế, nhƣng nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển vì ngƣời nghèo. Kinh nghiệm phát triển của các nƣớc trên thế giới cho thấy nƣớc nào bỏ quên nông nghiệp trong quá trình phát triển thì kinh tế phát triển chậm, thậm chí tụt hậu2. Đồng thời, chuyển đổi cấu trúc nông nghiệp, nông thôn cũng không đƣơng nhiên diễn ra nếu thiếu chính sách phù hợp. Tổng kết kinh nghiệm của 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trong 300 năm vừa qua cho thấy chỉ có dƣới 40 nƣớc chuyển đổi cấu trúc nông nghiệp, nông thôn thành công và kèm theo đó là thành công trong chuyển đổi cấu trúc kinh tế nói chung3.
Kinh nghiệm lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, định hƣớng phát triển và chính sách là những yếu tố rất quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, cần phải thúc đẩy tối đa sức sản xuất nông nghiệp, đổi mới triệt để các hình thức tổ chức, nâng cao hàm lƣợng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm; định hƣớng đầu tƣ và huy động doanh nghiệp vào việc tận dụng lực lƣợng lao động rút ra từ lĩnh vực nông nghiệp; hệ thống tài chính phải định hƣớng nguồn vốn đầu tƣ vào ngành nông nghiệp và vào phát triển sản xuất. Giai đoạn chuyển đổi và đổi mới trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn hƣớng đến các giải pháp tạo việc làm ở nông thôn bằng cách phát triển nông nghiệp giá trị cao, thâm dụng lao động và liên kết chặt chẽ với khu vực phi nông nghiệp. Cùng với đó là thích ứng với những thách thức của toàn cầu hóa, đổi mới thể chế về thị trƣờng quốc tế, sự phát triển của khoa học công nghệ, và ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu.
1 Viện trƣởng Viện Chính sách và Chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông thôn 2 Phần lớn nƣớc có tăng trƣởng nông nghiệp trên 3%/năm thì cũng đạt tăng trƣởng kinh tế trên 5%/năm. Ngƣợc lại, những nƣớc có tăng trƣởng nông nghiệp dƣới 1%/năm thì tăng trƣởng chung chỉ ở mức dƣới 3%/năm, trừ những nƣớc phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ, khoáng sản thô hoặc những nƣớc có quy mô quá nhỏ cả về diện tích và dân số, thƣờng theo mô hình “Nhà nƣớc đô thị” nhƣ Singapore. 3 Timmer 1988 1 luan an II. Cơ sở về thực tiễn Với điều kiện là một quốc gia có lợi thế so sánh đặc biệt về nông nghiệp trên nhiều khía cạnh về tài nguyên thiên nhiên (đất đai, khí hậu, địa hình…) và truyền thống sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, Việt Nam đã trải qua 30 năm đổi mới thành công theo định hƣớng thị trƣờng.
Khu vực nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định kinh tế xã hội: đảm bảo an ninh lƣơng thực, tạo việc làm và thu nhập cho gần 70% dân cƣ, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo… Trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi cấu trúc nông nghiệp nông thôn, từ giai đoạn đổi mới (1986-1995) với mục tiêu đảm bảo an ninh lƣơng thực, sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (1996-2010). Với những chính sách và giải pháp phù hợp, nông nghiệp đã đạt đƣợc mức tăng trƣởng GDP khá cao và ổn định, sản xuất chuyển mạnh sang hƣớng hàng hóa, xuất khẩu nông sản tăng trƣởng ở mức trung bình 15% (1996-2010), cùng với đó là hạ tầng kinh tế - xã hội đƣợc cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, kết quả của giai đoạn này đã đặt ra nhiều thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cụ thể đó là điểm yếu của mô hình tăng trƣởng theo chiều rộng nhƣ thâm dụng tài nguyên, suy giảm môi trƣờng sinh thái, thách thức về an toàn thực phẩm, năng suất lao động thấp … Trƣớc bối cảnh đó, phát triển kinh tế nông thôn trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020, bắt đầu từ Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ƣơng Đảng, với mục tiêu xây dựng nông nghiệp, nông thôn với cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch. Tiếp đến là Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa XII đã tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, trong đó tập trung thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất; đẩy mạnh công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nông, lâm, thủy sản; có chính sách phù hợp để phát triển và tiêu thụ đối với các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, có lợi thế quốc gia, lợi thế địa phƣơng và các đặc sản vùng, miền.
Cùng với quá trình đó, Chính phủ đã xây dựng và cho triển khai Chƣơng trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 (năm 2010) và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (năm 2013), theo đó một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án là nâng cao thu nhập, cải thiện nhanh hơn đời sống của nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo. Kết quả triển khai chủ trƣơng, chính sách trong xây dựng NTM, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, cụ thể là: - Nông nghiệp có mức tăng trƣởng ổn định, giai đoạn 2011-2015 tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân của toàn ngành nông, lâm, thủy sản đạt 3,1%/năm, bình quân giai đoạn 2011-2018 đạt 2,95%/năm, tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP nền kinh tế giảm từ 18,38% năm 2011 xuống còn 14,57% năm 2018. Nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa cạnh tranh quốc tế, năng suất, chất lƣợng sản phẩm ngày càng cao. Cơ cấu sản xuất từng ngành đƣợc điều chỉnh, chuyển đổi theo hƣớng phát huy lợi thế của mỗi địa phƣơng và cả nƣớc gắn với nhu cầu thị trƣờng.
Công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển nhanh cả về giá trị sản xuất và lĩnh vực, hình thức hoạt động. Giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn có xu hƣớng 2 luan an tăng trƣởng cao hơn mức tăng trƣởng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, bình quân giai đoạn 2008-2017 đạt 12,2%. - Xuất khẩu về nông, lâm, thủy sản có mức tăng trƣởng ấn tƣợng nhờ mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đƣa Việt Nam đứng thứ 2 Đông Nam Á và đứng thứ 13 thế giới về xuất khẩu nông sản, với tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản 10 năm (2008-2017) đạt 261,28 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm, năm 2018 kim ngạch xuất khẩu đạt 40,02 tỷ USD, thặng dƣ thƣơng mại đạt 8,7 tỷ USD. Nông sản Việt Nam hiện đã có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, khẳng định đƣợc vị trí, vai trò và giá trị trên thị trƣờng quốc tế.
- Cơ cấu ngành nghề nông thôn có sự chuyển dịch từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các hoạt động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Giai đoạn 2011- 2016, tỷ lệ hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 62,15% xuống còn 53,66%; hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 33,44% lên 40,03%. - Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ đạt đƣợc những kết quả tích cực, KHCN đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong sản xuất giống cây trồng và vật nuôi với giá trị gia tăng đạt đến 38%. Các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản đã làm tăng hiệu quả kinh tế từ 10-30%; trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô và 60% diện tích mía đã sử dụng giống mới… - Chuyển dịch lao động trong khu vực nông thôn theo hƣớng tích cực, giai đoạn 2011-2016, tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản ở khu vực nông thôn giảm tƣơng đối nhanh từ 59,59% xuống 51,39%.
Trên phạm vi cả nƣớc, tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm nhanh, từ 48,4% năm 2011 xuống còn 38,1% năm 2018, tốc độ giảm bình quân 1,98%/năm. Đây là kết quả tích cực và sớm đạt mục tiêu so với kế hoạch giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống dƣới 40% vào năm 2020.