Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Phát triển Theo Đỗ Kim Chung (2014), phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Quan điểm này cũng được cho rằng, sự phát triển là quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực. Bất cứ trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như sự tăng lên cả chất và lượng, sự thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức, sự thay đổi về thị trường và giữ công bằng xã hội, an ninh trật tự. Phát triển là một quá trình vận động đi lên, là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và thay đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện.
Phát triển tiếp cận từ góc độ quản lý kinh tế bao gồm: Phát triển là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người. Phát triển kinh tế gắn với phát triển ngành hồng là một khía cạnh của phát triển sản xuất vật chất. Như vậy, có thể khái quát những quan điển chủ yếu về phát triển như sau: - Phát triển đó là sự gia tăng về số lượng và thay đổi về chất lượng. - Phát triển được hiểu theo nghĩa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
- Phát triển chính là tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu 1. Phát triển sản xuất Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hữu ích. Như vậy phát triển sản xuất được coi là một qúa trình tăng tiến về quy mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu. Trong Luan van 6 cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển (Đỗ Kim Chung, 2014).
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận Phát triển sản xuất có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Trong đó: - Phát triển sản xuất theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất không đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn. Kết quả phát triển sản xuất đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên. Phát triển sản xuất theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai.
- Phát triển sản xuất theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Như vậy phát triển sản xuất theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm. Đồng thời làm thay đổi về qui mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo.
Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên 1. Nội dung phát triển sản xuất lúa 1. Quy mô và hình thức tổ chức sản xuất * Phát triển sản xuất theo chiều rộng Cũng như các loại cây trồng khác, phát triển sản xuất lúa theo chiều rộng Luan van 7 là việc tăng lên về diện tích, sản lượng, giá trị (sản phẩm hàng hóa) muốn vậy ta phải tăng diện tích đất cho sản xuất, đầu tư về giống, khoa học kỹ thuật, tập huấn kỹ thuật, tăng cường đội ngũ lao động. Phát triển sản xuất lúa theo chiều rộng thường ở khía cạnh tăng diện tích sản xuất bằng các biện pháp khác nhau, khía cạnh phát triển này được hiểu cả về không gian và thời gian (Đoàn Thị Như Trang, 2015).
* Phát triển sản xuất theo chiều sâu Phát triển sản xuất theo chiều sâu là việc tăng đầu tư thâm canh, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giá thành của sản phẩm ngày càng hợp lý, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu của thị trường trong nước và tương lai là hướng tới xuất khẩu, thu hút được nhiều việc làm cho người lao động, chống suy thoái các nguồn tài nguyên, phát triển bền vững. Khía cạnh phát triển này liên quan tới tăng năng suất, chất lượng và giá trị, dẫn tới tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa. Việc tăng năng suất có thể được thực hiện thông qua áp dụng các tiến bộ khoa học như giống, các biện pháp thâm canh. Tăng chất lượng và giá trị sản phẩm cũng có thể được làm theo các đầu tư chiều sâu như trên, song còn liên quan tới bố trí thời vụ, công tác thu hoạc, chế biến, và công tác tiêu thụ sản phẩm.
Nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người trồng lúa là mục tiêu cốt yếu và cũng là yếu tố thúc đẩy sản xuất lúa. Phát triển sản xuất lúa cần mang lại thu nhập ổn định cho người trồng lúa và cao hơn các cây trồng cạnh tranh khác. Phát triển sản xuất lúa theo chiều sâu thể hiện qua việc liên kết giữa những hộ sản xuất, giữa người mua và người bán… Theo lý thuyết chung, liên kết nhằm mục tiêu phân bổ lợi ích và cả rủi ro giữa những người tham gia để các tác nhân tham gia cùng nhau phát triển. Liên kết thường được phân chia thành liên kết ngang và liên kết dọc.
Liên kết ngang là liên kết giữa các thành viên ở cùng 1 cấp trong chuỗi sản xuất. Chẳng hạn nông dân liên kết trong những câu lạc bộ. Quy mô sản xuất lớn giúp chất lượng sản phẩm đồng nhất, chi phí đầu vào thấp hơn do được hợp đồng trực tiếp với công ty cung cấp nguyên liệu với số lượng lớn, có chiết khấu cao, được công ty chế biến tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cũng như bao tiêu sản phẩm đầu ra, được cung cấp thông tin kịp thời,… đó là những lợi ích mà hình thức liên kết ngang mang lại. Liên kết ngang ở quy mô Luan van 8 lớn hơn là hình thức hiệp hội nông dân tỉnh, liên minh HTX….
Ở quy mô toàn quốc cũng có thể h́ ình thành những tổ chức liên kết cấp vĩ mô, như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA)…. Các tổ chức này tập trung vào hoạt động cầu nối với cơ quan chính phủ, đối thoại với chính phủ trong xây dựng chính sách, bảo vệ quyền lợi hội viên, đào tạo, tư vấn và huấn luyện nâng cao năng lực cho các thành viên của mình; tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược trong nước và quốc tế; thu thập, phân tích và cung cấp thông tin thị trường, công nghệ và tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại và phát triển thị trường. Mục đích của hình thức liên kết này chủ yếu nhằm hỗ trợ về chính sách, tài chính, nghiên cứu thị trường, thống kê, dự báo, hướng dẫn, đào tạo và huấn luyện nâng cao năng lực cho các tổ chức thành viên. Liên kết dọc là liên kết giữa hai hay nhiều thành viên tham gia chuỗi sản xuất ở các cấp khác nhau (giữa các khâu trong chuỗi giá trị) thông qua các hợp đồng được đảm bảo bởi pháp luật, như liên kết giữa nhà cung cấp đầu vào với người sản xuất, liên kết giữa nhà sản xuất nguyên liệu với công ty chế biến.
Với đặc điểm quản lý chuỗi từ đầu vào cho tới đầu ra với quy trình khép kín, liên kết dọc giúp kiểm soát được chi phí, chất lượng sản phẩm tốt và đồng đều, ổn định được giá đầu ra và cân đối cung cầu. Đặc biệt, các thành viên tham gia trong liên kết dọc có cùng tiếng nói và trách nhiệm đến sản phẩm cuối cùng, do đó dễ dàng chia sẻ thông tin, thông qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng (Đoàn Thị Như Trang, 2015). Liên kết “nhiều nhà”: Theo cách tiếp cận chuỗi giá trị, để phát triển bền vững chuỗi sản phẩm thì ngoài liên kết ngang và liên kết dọc được đề cập ở trên còn có sự hỗ trợ riêng lẻ cho từng tác nhân trong chuỗi như về kỹ thuật từ các viện, trường, cán bộ khuyến nông, công ty cung ứng vật tư đầu vào, công ty chế biến về xúc tiến thương mại, kiểm soát thị trường và chất lượng; hoặc ngân hàng hỗ trợ về vỗn cho cho toàn chuỗi, chính sách từ chính quyền địa phương các cấp,… Đây là mối liên kết “nhiều nhà”, một đảm bảo cao hơn cho sự phát triển bền vững chuỗi ngành hàng.