CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Khái niệm và đặc trƣng của cơ cấu kinh tế Khái niệm cơ cấu thường được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống.
Sau một thời gian biến đổi, các quan hệ giữa các bộ phận sẽ làm cho cơ cấu của hệ thống thay đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hay trở thành một cơ cấu khác. Nếu hiểu biết cơ cấu của toàn bộ hệ thống thì sẽ nghiên cứu được quy luật để xác định các vấn đề có tính định lượng của hệ thống đó. Vì vậy, nghiên cứu về cơ cấu có vai trò cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu hệ thống và khi nghiên cứu cơ cấu, cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Không chỉ nghiên cứu về những yếu tố cấu thành hệ thống mà còn phải nghiên cứu về mối quan hệ, liên kết hữu cơ giữa các yếu tố đó (cả về tỷ trọng số lượng, chất lượng các yếu tố) và sự vận động, biến đổi cơ cấu của hệ thống. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu theo chuỗi thời gian.
- Phải đứng trên quan điểm hệ thống để nghiên cứu cơ cấu. Để nghiên cứu hệ thống kinh tế quốc dân, cần phải nghiên cứu về cơ cấu cấu thành hệ thống đó. Trên quan điểm hệ thống như vậy, có thể hiểu cơ cấu kinh tế của một nước là tập hợp các yếu tố cấu thành nền kinh tế của nước đó và mối quan hệ, những tác động qua lại giữa tất cả các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân. Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Theo Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật 8 z chất. Khi quá trình tổ chức lao động phát triển mạnh mẽ sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của xã hội. Vì thế có thể hiểu cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế- xã hội và thời gian nhất định. Điều đó có nghĩa là khi xem xét cơ cấu kinh tế phải xem xét cấu trúc bên trong của nền kinh tế qua các mối quan hệ khác nhau.
Các quan hệ này không chỉ là quan hệ tỷ lệ mang tính số lượng mà còn mang tính chất lượng thể hiện sự ràng buộc giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Hơn thế nữa, hệ thống kinh tế có có đặc điểm: là hệ thống mở, phức tạp, động, đa cấu trúc, phân cấp, tự điều chỉnh và bị điều khiển bởi nhà nước, vì thế cơ cấu kinh tế có thể vận động theo những mục tiêu nhất định của nền kinh tế. Dưới dạng tổng quát, cơ cấu kinh tế (của một nước) có thể được hiểu là tập hợp các yếu tố kinh tế cấu thành nền kinh tế quốc dân, phản ánh mối quan hệ hữu cơ, những tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế đó, được thể hiện ra cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian, điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể và vận động hướng vào các mục tiêu nhất định của nền kinh tế. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế Trước hết, cơ cấu kinh tế có tính khách quan và mang tính lịch sử, xã hội nhất định, được hình thành do trình độ phát triển sản xuất và phân công lao động xã hội.
Khi sản xuất và phân công lao động càng phát triển thì cơ cấu kinh tế ngày càng chi tiết. Cơ cấu kinh tế được hình thành, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan nên có tính khách quan. Vì vậy, con người chỉ có thể vận hành nó trên cơ sở tuân theo quy luật khách quan của nó. Con người cũng không thể 9 z áp đặt cơ cấu kinh tế một cách giáo điều cho mọi nơi, mọi lúc vì nó có tính lịch sử, xã hội nhất định.
Nền kinh tế chỉ phát triển khi các bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội giữ được mối liên hệ cân đối. Mỗi phương thức sản xuất có những yêu cầu về số lượng và tỷ lệ cân đối khác nhau do các quy luật kinh tế đặc thù mà trước hết là các quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất đó quy định. Ngay trong cùng một hình thái kinh tế- xã hội nhưng ở những nước khác nhau thì cơ cấu kinh tế cũng khác nhau do có điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau. Cơ cấu kinh tế thường biến động gắn với sự phát triển không ngừng của bản thân các yếu tố, bộ phận trong nền kinh tế và các mối quan hệ của chúng.
Thứ hai, trong cơ cấu kinh tế, các yếu tố, các bộ phận kinh tế không tách rời một cách độc lập mà liên hệ với nhau hết sức chặt chẽ theo những quy luật đặc thù riêng. Thứ ba, một cơ cấu kinh tế có thể bao gồm nhiều bộ phận kinh tế khác nhau, có bộ phận kinh tế chủ yếu, có bộ phận kinh tế thứ yếu. Bộ phận kinh tế chủ yếu có thể được gọi là bộ phận then chốt, mũi nhọn quyết định chiều hướng, quy mô, nhịp độ phát triển của tổng thể nền kinh tế. Thứ tư, cơ cấu kinh tế không cố định, nó không ngừng vận động, biến đổi và phát triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn, mở rộng hơn và hiệu quả hơn trong quá trình phân công và hợp tác lao động giữa các ngành, các vùng, các đơn vị kinh tế trong nước và trên phạm vi quốc tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và những nhân tố ảnh hƣởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Hệ thống kinh tế quốc dân có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh và tương ứng sẽ có những cơ cấu kinh tế khác nhau. Trong nghiên cứu kinh tế, ba loại cơ cấu kinh tế thường được đề cập là: cơ cấu kinh tế ngành (xét theo 10 z sự phân công lao động trong quá trình sản xuất xã hội), cơ cấu kinh tế thành phần (xét trên góc độ sở hữu và hình thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh) và cơ cấu kinh tế vùng (xét theo các đặc điểm sinh thái tự nhiên, phân bố theo không gian). Ba loại cơ cấu kinh tế này có sự ràng buộc lẫn nhau, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đan xen nhau, trong đó cơ cấu kinh tế ngành là cơ cấu cơ bản nhất, phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ khoa học công nghệ của hệ thống kinh tế, Do đó, cơ cấu kinh tế ngành có vai trò quan trọng nhất trong việc phân tích, đánh giá, dự báo sự phát triển của nền kinh tế. Cũng chính vì vậy, luận văn cũng chủ yếu đề cập tới cơ cấu kinh tế ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong nghiên cứu.
Một cách đơn giản, có thể hiểu cơ cấu ngành của nền kinh tế là kết cấu hữu cơ theo ngành của nền kinh tế, nó phản ánh các mối quan hệ tương đối ổn định giữa các ngành hình thành nên nền kinh tế quốc dân. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo thời gian được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành). Theo Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), nền kinh tế được phân thành 3 nhóm ngành lớn là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong mỗi nhóm ngành lại bao gồm nhiều ngành và phân ngành nhỏ hơn.
Cũng giống như các cơ cấu kinh tế khác, cơ cấu kinh tế ngành không cố định. Sự thay đổi cơ cấu ngành hay sự chuyển dịch cơ cấu ngành là kết quả của quá trình: - Xuất hiện thêm những ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là đã có sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế. 11 z - Tăng trưởng về quy mô với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn tới thay đổi cơ cấu hay nói cách khác, sự phát triển không đều của các ngành sau mỗi giai đoạn đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế ngành. - Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành.
Mối quan hệ của một ngành với các ngành khác thể hiện qua quy mô đầu vào mà nó cung cấp cho các ngành khác hay nhận được từ các ngành đó. Khi công nghệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho mối quan hệ này thay đổi, kéo theo những tác động hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các ngành có liên quan và vì thế dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Tóm lại, sự tăng trưởng của các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành trong một nền kinh tế, làm cho cơ cấu kinh tế ngành không ngừng vận động, biến đổi và phát triển. Quá trình vận động, biến đổi đó chính là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch đó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Lực lượng sản xuất càng phát triển cao, càng hiện đại thì phân công lao động xã hội cũng phát triển cao hơn, tỉ mỉ hơn, theo quy luật quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Và, như vậy, cơ cấu kinh tế dần được hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn và mở rộng hơn. Cho nên chuyển dịch cơ cấu ngành xảy ra như là kết quả của quá trình phát triển. Đây là quy luật tất yếu dù xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế hay trên phạm vi phân ngành hẹp hơn.
Sự hình thành và tăng trưởng của các ngành kinh tế lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan. Có thể tổng hợp các nhân tố tác động tới quá trình hình thành, tăng trưởng của các ngành kinh tế, và do đó kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là: - Các nhân tố địa lý - tự nhiên (như tài nguyên khoáng sản, nguồn nước, nguồn năng lượng, đất đai, khí hậu).