phần mở đầu, kết luận và phụ lục, cấu trúc của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của nghiên cứu điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất rau an toàn trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chƣơng 2: Đánh giá điều kiện tự nhiên ảnh hƣởng đến sản xuất rau an toàn ở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Các giải pháp sản xuất rau an toàn thích ứng với biến đổi khí hậu ở huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Ngành NN nói chung và sản xuất RAT nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức lớn từ BĐKH toàn cầu. Sự suy giảm về diện tích đất canh tác, sản lƣợng và năng suất trong NN đang đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của loài ngƣời trên Trái Đất. Bên cạnh đó là các vấn đề nhƣ ô nhiễm của môi trƣờng tự nhiên đang ở mức báo động, hàm lƣợng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu,… vƣợt quá ngƣỡng cho phép, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe con ngƣời. Trƣớc thực trạng trên, việc sản xuất RAT phải thích ứng với BĐKH đồng thời đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu thụ những thực phẩm xanh - sạch và an toàn luôn là vấn đề đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Trên thế giới Trên thế giới hiện nay, việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất NN đang đƣợc nhiều nƣớc quan tâm, nhân rộng và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao. Trong sản xuất RAT, phần lớn các quốc gia trên thế giới hiện nay đều thực hiện quy trình sản xuất RAT theo tiêu chuẩn GAP, với trình độ kỹ thuật cao, các nƣớc nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Hà Lan trồng rau hoàn toàn trong nhà lƣới, nhà kính, không bón phân hữu cơ và cơ khí hoá, tự động hoá từ khâu gieo mầm cho đến khi thu hoạch. Châu Á là châu lục mở đƣờng trong nghiên cứu và phát triển rau quả. Viện nghiên cứu rau châu Á (AVRDC) đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong việc nghiên cứu, phát triển và mở rộng về diện tích, chất lƣợng các chủng loại rau cho các quốc gia trong châu lục.
Hàng 9 nghìn công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên khắp châu Á đã làm phong phú thêm kho tàng tri thức về nghiên cứu rau quả trên thế giới. Đặc biệt, với các quốc gia đang phát triển, AVRDC chú trọng nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp về thị trƣờng, về sản xuất gắn với bảo vệ môi trƣờng và phát triển NN bền vững. Đa số các báo cáo về tình hình sản xuất, tiêu thụ RAT ở các nƣớc đang phát triển đều có chung một nhận định cho rằng vấn đề mà các nƣớc này đang gặp phải đó là thay đổi tập quán canh tác của nông dân, tiếp cận và làm chủ các quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm [22]. Ở các nƣớc đang phát triển, công trình nghiên cứu về RAT VEGSYS do Ủy ban châu Âu tài trợ kéo dài 4 năm và kết thúc vào tháng 12 năm 2005.
Với những kinh nghiệm và thành tựu đã đạt đƣợc, các đối tác đã tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam. Trong đó thí điểm tại vùng đồng bằng sông Hồng trên cơ sở không làm tổn hại nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thời gian tới AVRDC sẽ thực hiện dự án liên quan tới bảo vệ thực vật trên một số chủng loại rau; Việt Nam là một trong các đối tác dự án. Dự án tập trung vào các loại rau họ cải và đậu phổ biến và biện pháp quản lý các loài côn trùng có hại, đặc biệt là bọ nhảy cũng nhƣ các loại bệnh do virut, vi khuẩn và nấm gây ra trên cây rau.
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về RAT trên thế giới hiện nay, ngƣời ta có thể chia làm hai lĩnh vực nghiên cứu tƣơng ứng với trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Đối với nhóm nƣớc phát triển, thƣờng nghiên cứu về công nghệ, cải tiến kỹ thuật, các công việc liên quan đến marketting, tiếp thị sản phẩm đối với các quốc gia có trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật. Còn nhóm nƣớc kém phát triển hơn về khoa học kỹ thuật tập trung nghiên cứu về khả năng áp dụng và xác định các khó khăn trở ngại trong việc sản xuất RAT có tính đến sự phát triển bền vững 10 và đáp ứng nhu cầu rau xanh của ngƣời dân quốc gia đó. Tại Việt Nam Ở nƣớc ta, việc nghiên cứu đánh giá các ĐKTN theo hƣớng cảnh quan ứng dụng cho mục đích nông - lâm nghiệp bắt đầu từ thập niên 1960 - 1970, nhƣ “Sơ đồ phân vùng địa lý tự nhiên Miền Bắc Việt Nam” của Tổ phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp - Ủy ban Khoa học Nhà nƣớc.
Điển hình gần đây là công trình “Đánh giá tổng hợp 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lâm Đồng cho mục đích nông-lâm nghiệp, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” của Phạm Hoàng Hải và CTV, Nguyễn Ngọc Khánh “Nghiên cứu cảnh quan thượng nguồn sông Cầu phục vụ phân vùng môi trường”. Trong các công trình này, trên cơ sở hệ thống các nguyên tắc đánh giá tiềm năng tự nhiên, thông qua các bƣớc đánh giá riêng từng hợp phần tự nhiên đến đánh giá tổng hợp dựa trên đặc điểm của các đơn vị lãnh thổ cảnh quan. Các chỉ tiêu đƣợc chọn là các đặc điểm đặc thù của vùng có liên quan đến ngành sản xuất nông-lâm-nghiệp. Phƣơng pháp đánh giá bằng thang điểm tổng hợp đƣợc áp dụng để phân cấp các vùng thuận lợi hoặc ít thuận lợi cho hai ngành sản xuất nông và lâm nghiệp.
Theo hƣớng sinh thái cảnh quan, các công trình nhƣ "Nghiên cứu cải tạo, sử dụng hợp lý hệ sinh thái vùng gò đồi Bình Trị Thiên" (1990) là đại diện, trong đó các chỉ tiêu sinh thái (nhƣ nhiệt độ, độ ẩm, đất, độ dốc.) cho một số loài cây trồng đƣợc lựa chọn để đánh giá các mức độ thích hợp. Dƣới góc độ phân vùng địa lý tự nhiên, các nhà địa lý tiến hành phân vùng lãnh thổ nghiên cứu, từ đó xác định một cách khái quát nhất phƣơng hƣớng sử dụng lãnh thổ. Trong các công trình này, các đơn vị lãnh thổ tƣơng đối đồng nhất về một số chỉ tiêu nào đó, với những đặc điểm nhất định về tài nguyên đƣợc sử dụng làm đơn vị cơ sở cho quy hoạch vùng và sử dụng tổng hợp lãnh thổ. Kiểu đánh giá phổ biến hiện nay là đánh giá 11 mức độ thuận lợi của các ĐKTN, tài nguyên thiên nhiên cho các dạng khai thác khác nhau.
Cho đến nay vẫn chƣa có mô hình thống nhất về phƣơng pháp, chỉ tiêu cũng nhƣ lựa chọn đơn vị cơ sở đánh giá. Tuy nhiên, những công trình này đã đóng góp vào việc hình thành các quan điểm nghiên cứu, xác định cách tiếp cận của đề tài trên nguyên tắc và quan điểm địa lý ứng dụng trong đánh giá tổng hợp ĐKTN. Tác giả Nguyễn Thị Hạnh (2018) với nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên đất đai phục vụ phát triển vùng chuyên canh rau xanh ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”. Đề tài tập trung vào việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cũng nhƣ yêu cầu sinh thái của các loại rau, sau đó đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi đất đai cho các loại rau trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Từ đó dễ dàng hơn trong việc quy hoạch và đƣa ra các giải pháp thực thi hiệu quả phát triển bền vững vùng chuyên canh rau. Tác giả Dƣơng Quang Huy (2016), “Nghiên cứu giải pháp phát triển RAT tại thành phố Thái Nguyên”, Luận văn ThS Phát triển Nông thôn, Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Từ đó đánh giá các tác nhân và các yếu tố trong sản xuất RAT và rút ra các bài học cho phát triển RAT tại thành phố Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển RAT tại thành phố Thái Nguyên.
Dự án “Quy hoạch phát triển vùng sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của Sở NN và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang” do Sở NN và phát triển Nông thôn (Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang) thực hiện, đã đánh giá dựa vào thực trạng phát triển sản xuất ngành rau màu của tỉnh cũng nhƣ nhu cầu phát triển và 12 dự báo các nhân tố ảnh hƣởng đến việc sản xuất rau màu của tỉnh An Giang, sau đó thành lập bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển vùng sản xuất rau màu ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2020 – 2030. Từ đó đƣa ra các chính sách, giải pháp và tổ chức thực hiện. - Khu vực nghiên cứu: Tại Bình Định, trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH trên địa bàn nhƣ đề tài “BĐKH và ảnh hưởng của nó đến sản xuất NN thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”, của Nguyễn Đức Tôn và Trƣơng Văn Tuấn (2014), đề tài “Nghiên cứu BĐKH và thiên tai vùng hạ lưu sông Kôn – Hà Thanh phục vụ sản xuất NN huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định”, của Trƣơng Công Thành (2019). Nhƣ vậy, qua thống kê các tài liệu nghiên cứu cho thấy chƣa có công trình nghiên cứu về ĐKTN cho loại hình trồng rau trên bình diện toàn huyện.
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá ĐKTN phục vụ sản xuất RAT ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định trong bối cảnh của BĐKH” là hoàn toàn mới và kết quả nghiên cứu là đóng góp của đề tài. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã công bố là cơ sở quan trọng giúp đề tài luận văn hình thành quan điểm nghiên cứu, xác định cách tiếp cận và vận dụng phƣơng pháp phù hợp. Lý luận nghiên cứu điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất rau an toàn 1. Quan niệm về rau sạch Rau sạch là rau đƣợc trồng trên đất sạch, tƣới nƣớc giếng khoan hoặc nƣớc sông lớn không ô nhiễm (chất lƣợng đất, nƣớc đƣợc cơ quan chức năng kiểm tra và công nhận).
Không dùng phân tƣơi hay bón đạm nhiều. Hạn chế tối đa chất kích thích sinh trƣởng. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thật cần thiết và sau một thời gian quy định mới đƣợc thu hoạch.