phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, giải thích các cụm từ viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ; luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung của quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp tại huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. - Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp tại huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. e 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.
Tổng quan về nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp 1. Khái niệm nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp 1. Nông nghiệp Theo nghĩa thông thƣờng, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sử dụng đất đai và sinh vật tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Cách định nghĩa này chỉ dừng lại ở SXNN truyền thống.
Tuy nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu của xã hội đối với nông nghiệp ngày càng cao. Nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sản xuất ra các sản phẩm mà còn bao gồm cả khâu chế biến, marketing và tiêu thụ nông sản. Do vậy, sản phẩm cuối cùng của nông nghiệp không đơn thuần là nông sản mà là thực phẩm nông sản, vì vậy nông nghiệp cần đƣợc định nghĩa ở phạm vi rộng hơn. Theo Từ điển kinh tế học: Nông nghiệp là quá trình sản xuất lƣơng thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc [19].
Theo Bách khoa toàn thƣ mở (Wikipedia): Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản. Hiện nay, nông nghiệp đƣợc chia thành 02 dạng chính đó là: nông nghiệp thuần nông và nông nghiệp chuyên sâu [21]. Trên cơ sở các khái niệm ở trên, có thể hiểu nông nghiệp một cách khái quát nhƣ sau:“Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, e 8 được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông, lâm và ngư nghiệp”.
Lĩnh vực nông nghiệp Ngành Nông nghiệp Ngành Lâm nghiệp Ngành Thủy sản Trồng trọt Trồng rừng Nuôi trồng Chăn nuôi Quản lý, bảo vệ, Đánh bắt khai thác rừng… Sơ đồ 1. Các ngành cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp 1. Kinh tế nông nghiệp KTNN là ngành học nghiên cứu quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình sản xuất thuộc phạm vi nông nghiệp, nghiên cứu những nét đặc thù của hoạt động SXNN do sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội mang lại nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nông nghiệp góp phần phát triển KTNN, nông thôn. Trong quá trình SXNN, con ngƣời không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất cho nhu cầu của xã hội mà còn thực hiện sản xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của chính con ngƣời.
Những quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế cho toàn bộ các quan hệ tƣ tƣởng, tinh thần trong nông nghiệp, nông thôn. Nói cách khác, quan hệ sản xuất là các quan hệ kinh tế tạo nên cơ sở kinh tế cho sự phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản xuất và các quan hệ xã hội khác. Ngoài ra, KTNN là ngành kinh tế có chức năng phân tích ảnh hƣởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp; là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của SXNN, mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, tác động và sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành. Tóm lại, KTNN là tổng thể quan hệ SXNN, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất, hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với e 9 những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tƣơng ứng của Nhà nƣớc đối với toàn bộ nền nông nghiệp.
Các ngành sản xuất cơ bản của KTNN gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản [31]. Mục tiêu của kinh tế nông nghiệp Mục tiêu của KTNN là bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia trƣớc mắt và lâu dài. Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cƣ nông nghiệp và nông thôn; bảo vệ môi trƣờng sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển KTNN bền vững [26].
Đối với nền nông nghiệp Việt Nam trải qua quá trình vận động, chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang sản xuất theo hƣớng công nghiệp và hiện đại; chuyển từ nền nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá và cao hơn là nền nông nghiệp thƣơng mại hoá và xây dựng nền nông nghiệp sạch, hữu cơ nhằm đáp ứng các mục tiêu của phát triển bền vững. Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp KTNN là tổng thể mối quan hệ trong SXNN và có những đặc điểm: 1. Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhƣng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong nông nghiệp, đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế đƣợc.
Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con ngƣời không thể tăng theo ý muốn chủ quan, nhƣng sức sản xuất ruộng đất là chƣa có giới hạn, nghĩa là con ngƣời có thể khai thác theo chiều sâu nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của con ngƣời về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm và hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản. Đồng thời, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dƣỡng làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên mỗi đơn vị sản phẩm. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực và tính thời vụ cao Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lực lƣợng lao động thì có thể tiến hành SXNN.
Thế nhƣng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết, khí hậu với lƣợng mƣa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… trên từng địa bàn gắn chặt với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai, khí hậu không giống nhau giữa các vùng làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức SXNN cần phải chú ý các vấn đề: Thứ nhất, tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông, lâm, thuỷ sản trên phạm vi cả nƣớc cũng nhƣ từng vùng, từng địa phƣơng để quy hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi phù hợp với tình hình thực tế. Thứ hai, việc xây dựng phƣơng hƣớng SXKD, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu SXNN ở từng vùng, từng địa phƣơng. Thứ ba, hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, địa phƣơng nhất định. Bên cạnh phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên thì tính thời vụ là nét đặc trƣng điển hình nhất của SXNN, bởi vì một mặt SXNN là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn với tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.
Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ đƣợc, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó. Mặt khác do sự biến đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Đối tƣợng của SXNN là cây trồng có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và dự trữ nguồn năng lƣợng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ e 11 bản cho con ngƣời và vật nuôi. Nhƣ vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân.
Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, nhƣ: ánh sáng, độ ẩm, lƣợng mƣa, không khí. Lợi thế tự nhiên đã ƣu ái rất lớn cho con ngƣời, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp và chất lƣợng. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trƣởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng.
Cây trồng, vật nuôi với tƣ cách là tƣ liệu sản xuất đặc biệt đƣợc sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu đƣợc ở chu trình sản xuất trƣớc làm tƣ liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lƣợng giống cây trồng, vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thƣờng xuyên chọn lọc, lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lƣợng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phƣơng. Kinh tế nông nghiệp gắn liền với khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ cao Khoa học kỹ thuật là yếu tố quan trọng, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy KTNN phát triển. Bởi vì, sự phát triển của khoa học kỹ thuật không những làm thay đổi các công cụ sản xuất theo hƣớng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, mà còn làm thay đổi cả phƣơng thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công nghệ sản xuất trong các ngành kinh tế.