Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ CƠ CẤU LẠI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH 1. Lý luận chung về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Lý luận chung về cơ cấu kinh tế Theo tiến trình phát triển của lịch sử, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển. Theo đó, dựa vào tính chất sản phẩm và chuyên môn kỹ thuật, nền sản xuất xã hội được phân chia thành các ngành, các lĩnh vực.
Đồng thời, trên cơ sở đặc điểm của từng khu vực, nền KT - XH được chia thành các vùng kinh tế khác nhau. Khi các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế được hình thành tất yếu đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa chúng với nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành CCKT. Trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị học”, khi bàn về vấn đề CCKT của xã hội, C.Mác đã cho rằng: Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ.
Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội [24, tr. Như vậy theo C.Mác, CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất tồn tại trong xã hội, phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, bao gồm: quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị và quan hệ sản xuất mầm mống. Sự tồn tại của CCKT này quyết định tới hướng phát triển của một phương thức sản xuất.Mác khẳng định: quan hệ sản xuất chịu sự quyết định của lực lượng sản xuất, phản ánh trình độ lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất biến đổi đến một trình độ nhất định kéo theo sự biến đổi của quan hệ sản xuất.
Nói cách khác, sự phát triển của lực 15 lượng sản xuất sẽ quyết định tới vị trí và mối quan hệ của các bộ phận trong quan hệ sản xuất, tức là quyết định tới CCKT. Đồng thời, trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất có tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất theo hai chiều hướng thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo đó, với một CCKT hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, từ đó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển theo. Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, khi nghiên cứu đặc điểm kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.Lênin khẳng định: trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Nga, kết cấu KT - XH gồm: những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Theo đó, Lênin cho rằng ở nước Nga có 5 thành phần kinh tế, đó là: “1) Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; 2) sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì; 3) chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4) chủ nghĩa tư bản nhà nước; 5) chủ nghĩa xã hội” [20, tr.Lênin nhấn mạnh: “Nước Nga rộng lớn và hỗn tạp đến mức các loại hình kinh tế khác nhau của kết cấu KT - XH đều xen kẽ với nhau ở trong đó”. Như vậy, theo V.Lênin: CCKT của xã hội là tổng thể các thành phần, các bộ phận cấu thành nền kinh tế, có vị trí, vai trò khác nhau song có mối quan hệ hữu cơ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau, và trong những điều kiện KT - XH nhất định các thành phần này sẽ có sự chuyển hóa cho nhau. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cần mở rộng công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân” [27, tr. Như vậy, về CCKT ngành ở Việt Nam giai đoạn này bao gồm ba ngành Công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp.
Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vị trí vai trò và mối quan hệ trong CCKT ngành kinh tế: 16 Công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của con người. Hai chân có mạnh thì đi mới vững chắc. Thương nghiệp làm nhiệm vụ đưa hàng hóa công nghiệp về bán cho nông dân, rồi lại mua các thứ nông sản về cho nhà máy. Thương nghiệp phải cố gắng làm công việc đó cho tốt, phải bảo đảm chất lượng hàng hóa và có tinh thần phục vụ người mua.
468 - 469] Sau khi hòa bình lập lại ở Miền Bắc, Người xác định: “Để đẩy mạnh việc củng cố miền Bắc, làm cơ sở cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Chính phủ sẽ thi hành kế hoạch khôi phục kinh tế năm 1956 bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải; nhưng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Về cơ cấu thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh cho rằng nền kinh tế Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế. Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Người chỉ rõ ở nước ta thời kỳ này có 6 thành phần kinh tế, bao gồm: Kinh tế địa chủ phong kiến; Kinh tế quốc doanh; Hợp tác xã; Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ; Kinh tế tư bản của tư nhân; Kinh tế tư bản quốc gia. Tuy nhiên, sau năm 1954 khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, Người đã xác định rõ ở miền Bắc có 5 thành phần kinh tế: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân).
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nữa CNXH). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả.
Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản” [25, tr. 293-294] 17 Như vậy, theo Hồ Chí Minh, CCKT ở miền Bắc là CCKT nhiều thành phần. Mỗi thành phần kinh tế có vị trí, tỷ trọng khác nhau và có mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành CCKT của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ hữu cơ đó cũng có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện KT - XH cụ thể.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định cấu thành. Như vậy, nói đến CCKT là nói đến sự phân chia các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận và mối liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế. Theo quan điểm lý thuyết hệ thống: CCKT là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện KT - XH nhất định phù hợp với mục tiêu đã được xác định của nền kinh tế. Như vậy, dưới các góc độ tiếp cận khác nhau có các quan niệm khác nhau về CCKT, song các quan niệm đều có các điểm chung là: Một là, CCKT là tổng thể các bộ phận cấu thành nền kinh tế.
Hai là, các bộ phận cấu thành CCKT có vị trí, tỷ trọng không ngang bằng nhau. Ba là, các bộ phận cấu thành CCKT không phải biệt lập nhau mà có mối quan hệ tương tác với nhau trong những điều kiện KT - XH nhất định. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng: CCKT là tổng thể các bộ phận cấu thành nền kinh tế cùng với vị trí, vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa chúng trong những điều kiện KT - XH nhất định. Từ quan niệm trên cho thấy: CCKT là tổng thể các bộ phận cấu thành nền kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Như vậy, lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động càng sâu sắc thì CCKT càng hoàn thiện, hợp lý. Theo đó, vị trí, vai trò, 18 tỷ trọng các bộ phận cấu thành CCKT như thế nào, xu thế chuyển dịch ra sao phụ thuộc vào điều kiện KT - XH, không phải do ý muốn chủ quan của con người quy định. Mặt khác, các bộ phận cấu thành nền kinh tế không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau làm cho CCKT thường xuyên vận động, biến đổi. Sự vận động, biến đổi CCKT gắn liền với sự biến đổi không ngừng của bản thân các yếu tố cấu thành nền kinh tế và quan hệ giữa chúng dưới tác động của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Vì vậy, trong CCKT hiện hữu luôn chứa đựng những tiền đề cho sự xuất hiện CCKT mới. Tuy nhiên, trong điều kiện KT - XH nhất định, CCKT tương đối ổn định phản ánh hiện trạng của nền kinh tế đó. Như vậy, dưới các góc độ tiếp cận khác nhau có các loại CCKT khác nhau: Tiếp cận dưới góc độ phân công lao động xã hội có CCKT theo ngành; tiếp cận dưới góc độ phân công lao động theo không gian, địa lý có CCKT theo vùng, lãnh thổ; tiếp cận dưới góc độ quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có CCKT theo thành phần kinh tế; tiếp cận dưới góc độ tổ chức sản xuất có CCKT theo hình thức tổ chức sản xuất… Các CCKT có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, trong đó, CCKT theo ngành có vai trò quyết định nhất. Mỗi loại CCKT lại bao gồm các phân hệ khác nhau: CCKT theo ngành bao gồm ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp và ngành dịch vụ.