Luận án: Thu hút đầu tư doanh nghiệp vào phát triển du lịch tỉnh Nghệ An - Nguyễn Văn Thành

Khám phá cơ hội thu hút đầu tư doanh nghiệp trong phát triển du lịch Nghệ An. Phân tích tiềm năng thị trường, chính sách hỗ trợ và chiến lược phát triển bền

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thu hút đầu tư doanh nghiệp vào phát triển du lịch Nghệ An

Thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển du lịch ở tỉnh Nghệ An là quá trình vận dụng các cơ chế, chính sách và biện pháp nhằm huy động nguồn lực tài chính, công nghệ từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Mục tiêu là xây dựng hạ tầng du lịch, tạo ra sản phẩm du lịch chất lượng cao. Nghệ An sở hữu tiềm năng du lịch đa dạng với bờ biển dài, hệ sinh thái phong phú và di sản văn hóa đậm đà bản sắc. Tỉnh nằm ở trung tâm Bắc Trung Bộ, có vị trí chiến lược trên hành lang kinh tế Đông Tây. Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế. Nguồn lực đầu tư công chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển. Do đó, huy động vốn từ khu vực tư nhân đóng vai trò then chốt. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp khả thi. Hướng đến mục tiêu đưa Nghệ An trở thành điểm đến du lịch trọng điểm quốc gia đến năm 2030.

1.1. Khái niệm và vai trò của thu hút đầu tư doanh nghiệp vào du lịch

Thu hút đầu tư doanh nghiệp vào du lịch là hoạt động xúc tiến nhằm kêu gọi các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và sản phẩm du lịch. Hoạt động này bao gồm hai hình thức chính: xúc tiến đầu tư trực tiếp thông qua hội nghị, gặp gỡ nhà đầu tư; và xúc tiến đầu tư gián tiếp qua kênh truyền thông, mạng lưới trung gian. Vai trò của thu hút đầu tư doanh nghiệp rất quan trọng. Nó giúp bổ sung nguồn lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời chuyển giao công nghệ quản lý hiện đại vào ngành du lịch. Qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch địa phương.

1.2. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cấp tỉnh

Cơ sở lý luận về phát triển du lịch cấp tỉnh được xây dựng trên nhiều nền tảng khoa học. Thứ nhất, lý thuyết kinh tế du lịch giải thích mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng du lịch. Thứ hai, lý thuyết quản trị công luận giải vai trò điều phối của chính quyền địa phương. Thứ ba, các mô hình xúc tiến đầu tư quốc tế cung cấp khung tham chiếu hữu ích. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư bao gồm: tổng vốn đầu tư thu hút được, số lượng dự án triển khai, tỷ lệ giải ngân và tác động lan tỏa kinh tế. Các nhân tố ảnh hưởng gồm môi trường kinh doanh, hạ tầng, nhân lực và cơ chế ưu đãi.

II. Phân tích thực trạng thu hút đầu tư doanh nghiệp vào du lịch Nghệ An

Thực trạng thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển du lịch tỉnh Nghệ An cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Về thuận lợi, Nghệ An có tài nguyên du lịch phong phú với hơn 82 km đường bờ biển, nhiều bãi tắm đẹp như Cửa Lò, Diễn Châu. Tỉnh có hệ thống di tích lịch sử văn hóa đa dạng, nổi bật là quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên. Vị trí địa lý thuận lợi trên trục giao thông Bắc Nam giúp kết nối dễ dàng với các thị trường du lịch lớn. Về khó khăn, hạ tầng giao thông liên vùng còn thiếu đồng bộ. Nguồn nhân lực du lịch chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng. Cơ chế ưu đãi đầu tư chưa đủ hấp dẫn so với các tỉnh lân cận. Hoạt động xúc tiến đầu tư còn manh mún, thiếu chiến lược dài hạn. Đánh giá chung cho thấy Nghệ An chưa khai thác hết tiềm năng du lịch hiện có.

2.1. Thuận lợi và tiềm năng du lịch Nghệ An

Nghệ An sở hữu nhiều thuận lợi để thu hút đầu tư du lịch. Tài nguyên tự nhiên đa dạng gồm biển, đảo, rừng núi và hệ thống sông ngòi. Các điểm đến nổi tiếng như Cửa Lò, Quỳnh Lưu, Diễn Châu thu hút lượng lớn du khách hàng năm. Di sản văn hóa phong phú với làng Sen quê Bác, các lễ hội truyền thống đặc sắc. Vị trí trung tâm Bắc Trung Bộ tạo lợi thế kết nối vùng. Dân số lớn nhất cả nước cung cấp nguồn lao động dồi dào. Chính quyền tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho nhà đầu tư.

2.2. Khó khăn và thách thức trong thu hút đầu tư

Bên cạnh thuận lợi, Nghệ An đối mặt nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư du lịch. Hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, đặc biệt đường đến các điểm du lịch tiềm năng còn hạn chế. Nguồn nhân lực du lịch thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng đào tạo. Môi trường kinh doanh còn bất cập, thủ tục hành chính phức tạp làm nản lòng nhà đầu tư. Sản phẩm du lịch nghèo nàn, thiếu tính đặc trưng cạnh tranh. Hoạt động xúc tiến đầu tư thiếu chiến lược bài bản, ngân quỹ hạn hẹp. Sự phối hợp giữa các sở ban ngành chưa hiệu quả, gây chồng chéo trong quản lý dự án đầu tư.

III. Giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư doanh nghiệp vào du lịch Nghệ An

Để đẩy mạnh thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2030, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế chính sách tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép dự án. Ban hành chính sách ưu đãi thuế, đất đai cạnh tranh so với các tỉnh lân cận. Nhóm giải pháp về hạ tầng ưu tiên đầu tư kết nối giao thông liên vùng, xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn. Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với văn hóa và sinh thái. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư yêu cầu xây dựng chiến lược dài hạn, nâng cao chất lượng ấn phẩm truyền thông, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên trách. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quảng bá hình ảnh du lịch Nghệ An.

3.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư du lịch

Hoàn thiện cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư là giải pháp nền tảng. Cần rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư du lịch. Ban hành khung ưu đãi rõ ràng về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất và phí hạ tầng. Áp dụng cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục đầu tư. Xây dựng quy hoạch du lịch tổng thể làm cơ sở kêu gọi đầu tư. Thành lập tổ công tác đặc biệt hỗ trợ nhà đầu tư từ khâu khảo sát đến vận hành dự án. Công khai minh bạch quy trình cấp phép và tiêu chí đánh giá dự án.

3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư du lịch

Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ. Xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư du lịch dài hạn với mục tiêu cụ thể từng giai đoạn. Nâng cao chất lượng ấn phẩm tài liệu xúc tiến, ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền thông. Tăng cường tổ chức hội nghị gặp mặt nhà đầu tư, hội thảo chuyên đề du lịch. Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến, đào tạo kỹ năng đàm phán quốc tế. Đẩy mạnh vai trò của các công cụ xúc tiến trực tiếp và gián tiếp. Kiểm soát đánh giá định kỳ kết quả hoạt động xúc tiến để điều chỉnh kịp thời.

IV. Kết luận và định hướng phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2030

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu hút đầu tư doanh nghiệp vào phát triển du lịch cấp tỉnh. Nghiên cứu chỉ ra Nghệ An có tiềm năng du lịch lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Thực trạng thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế về hạ tầng, nhân lực, cơ chế chính sách và xúc tiến đầu tư. Từ phân tích đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên các phương diện. Định hướng đến năm 2030, Nghệ An phấn đấu trở thành trung tâm du lịch trọng điểm của Bắc Trung Bộ. Mục tiêu thu hút lượng đầu tư tư nhân tăng trưởng bình quân 15-20% mỗi năm. Phát triển các sản phẩm du lịch biển, du lịch văn hóa tâm linh, du lịch sinh thái cộng đồng. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ của chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp. Đây là đóng góp có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn cho ngành du lịch tỉnh Nghệ An.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án bổ sung kho tri thức về thu hút đầu tư du lịch ở cấp tỉnh tại Việt Nam. Hệ thống hóa các khái niệm, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng một cách có hệ thống. Về thực tiễn, hệ thống giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp điều kiện địa phương. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý cho các nhà quản lý hoạch định chính sách. Đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá cơ hội đầu tư du lịch tại Nghệ An một cách toàn diện.

4.2. Định hướng phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2030

Định hướng phát triển du lịch Nghệ An đến năm 2030 tập trung vào ba trụ cột chính. Thứ nhất, hoàn thiện hạ tầng du lịch đồng bộ, ưu tiên kết nối giao thông và cơ sở lưu trú cao cấp. Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc trưng gắn với văn hóa, lịch sử và sinh thái biển đảo. Thứ ba, nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực du lịch thông qua đào tạo chuẩn quốc tế. Mục tiêu cụ thể đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp 10-12% GRDP tỉnh. Thu hút ít nhất 50 dự án đầu tư du lịch lớn trong giai đoạn 2025-2030. Xây dựng thương hiệu du lịch Nghệ An trên bản đồ du lịch quốc gia và quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển du lịch ở tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư vào du lịch - Bài viết “Key factors influencing foreign direct investment in the tourism industry in South Africa” (Các yếu tố chính ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Nam Phi) của tác giả J. Theo tác giả, đầu tư vào ngành du lịch mất rất nhiều vốn vì chi phí kết cấu hạ tầng cao (khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, trung tâm mua sắm, khu vui chơi, giải trí và đầu tư thiết bị cho các cơ sở này).

Do đó, nhà đầu tư sẽ lo lắng việc đầu tư của mình sẽ mang lại một khoản lỗ thay vì lợi nhuận. Các yếu tố có thể ngăn cản các nhà đầu tư tiềm năng đầu tư đó là: hỗ trợ chính phủ không đầy đủ; ưu đãi đầu tư thấp; thiếu kết cấu hạ tầng hỗ trợ; khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai; phải làm việc với nhiều cơ quan với nhiều chức năng chồng chéo; mất nhiều thời gian cần thiết để có được quyết định đầu tư, thiếu lao động có chuyên môn ở địa phương có thể sử dụng cho dự án… Từ sự phân tích trên, tác giả chỉ ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành du lịch đó là: Thứ nhất, kết cấu hạ tầng và sự ổn định chính trị xã hội. Kết cấu hạ tầng như đường sá, sân bay, thông tin liên lạc, nước sinh hoạt… như một yếu tố hết sức quan trọng đối với việc thu hút các nhà đầu tư. Sự ổn định chính trị và an ninh ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư vì sự lo lắng về việc bảo toàn vốn đầu tư.

Thứ hai, là chính phủ và chính sách của chính phủ. Thực tế cho thấy bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư. Các chính sách của chính phủ nhằm tạo ra một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện tiên quyết cho FDI vào ngành du lịch như: chính sách hỗ trợ của chính phủ, chính sách đào tạo lao động, chính sách sử dụng lao động, đảm bảo quyền tự chủ về kinh tế cho các doanh nghiệp…Thứ ba, tình hình nền kinh tế của đất nước. Nhân tố này bao gồm tình hình lạm phát, triển vọng kinh tế, lợi nhuận kỳ vọng, quy mô thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường dịch vụ du lịch được đầu tư.

Thứ tư, năng lực cạnh tranh của ngành du lịch. Khía cạnh này liên quan đến các chương trình khuyến khích, thu hút đầu tư, quy mô thị trường và sự phát triển của du lịch quốc 6 tế. Nhân tố này tác động rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư, đặc biệt là trong ngành du lịch. Thứ năm, tài nguyên thiên nhiên.

Nhân tố này hết sức quan trọng vì phần lớn đầu tư vào du lịch là hướng đến khám phá tài nguyên thiên nhiên. - Công trình “Attracting Investment in Tourism” (thu hút đầu tư vào du lịch) của Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA), Ngân hàng thế giới [105]. Công trình này đưa ra những nhân tố để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển du lịch ở Tanzania. Các nhân tố được đưa ra ở đây bao gồm những thuận lợi mà các nhà đầu tư vào du lịch mong muốn khi tiến hành bỏ vốn đầu tư.

Cụ thể là: (1) Tài sản và kết cấu hạ tầng. Về tài sản du lịch, đó là các tài sản về tự nhiên, văn hóa, lịch sử và khảo cổ bao gồm các nơi nổi tiếng như: Khu bảo tồn, công viên quốc gia, công viên biển, di tích lịch sử… Về kết cấu hạ tầng phục vụ du lich đó là các khách sạn, nhà nghỉ và các công trình giao thông. (2) Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch. Theo các tác giả của công trình này, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sẽ định hướng cho các nhà đầu tư tìm nơi đầu tư phù hợp với dịch vụ du lịch mà mình cung cấp, qua đó, nhà nước cũng xây dựng được kế hoạch đầu tư của mình để thu hút các nhà đầu tư, đảm bảo cho phát triển du lịch một cách hiệu quả và bền vững.

(3) Xây dựng lợi thế cạnh tranh. Mục đích của việc chính phủ xây dựng lợi thế cạnh tranh là để tăng sức hấp dẫn đầu tư đối với các nhà đầu tư. Lợi thế cạnh tranh đó là: (a) bằng cách gia tăng giá trị sản phẩm dịch vụ; (b) thông qua phân khúc thị trường; và (c) thông qua sự khác biệt hóa sản phẩm. (4) Chính phủ.

Theo công trình nghiên cứu này, để thu hút đầu tư, chính phủ cần ban hành các chính sách về thuế, hỗ trợ đầu tư, công nhận đầu tư của khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng du lịch, chính phủ phải cải cách bộ máy để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện các thủ tục hành chính. (5) Hoạt động xúc tiến đầu tư. Nhân tố này bao gồm các hoạt động như cung cấp các thông tin cần thiết cho nhà đầu tư, giới thiệu cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư, giải quyết những vấn đề vướng mắc cho các nhà đầu tư, tạo thuận lợi cho đầu tư vào du lịch. - Công trình “Tourism investment and finance” (đầu tư du lịch và tài chính) của Jim Phillips và Jamie Faulkner [96].

Công trình này đề cập đến một nhân tố quan trọng trong thu hút đầu tư vào du lịch đó là xu hướng của khách du lịch. Theo các tác giả, khi internet, truyền thông xã hội, phương tiện giao thông ngày càng thuận lợi cho phép khách du lịch thực hiện các chuyến đi theo sở thích riêng của mình thì các điểm đến mới nổi là nơi hấp dẫn khách du lịch, do đó, xu hướng này của du khách sẽ là 7 định hướng để các nhà đầu tư bỏ vốn vào những địa điểm mới này. Khi các mối đe dọa môi trường vì sự gia tăng dân số, sự mở rộng nhanh chóng của các ngành công nghiệp khai thác (dầu, khí đốt, khoáng sản) và biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng gia tăng thì du lịch sinh thái là lựa chọn hàng đầu của du khách. Do đó, đầu tư vào du lịch sinh thái cũng thu hút được các doanh nghiệp kinh doanh du lịch quan tâm.

Theo các tác giả, phát triển du lịch bền vững cũng là kinh doanh thông minh, khi ngày càng nhiều du khách tìm kiếm các điểm đến nghỉ mát thân thiện với môi trường. Vì vậy, xu hướng du lịch của du khách tác động rất lớn đến quyết định của các nhà đầu tư. - Công trình “promoting foreign investment in tourism” (Quảng bá đầu tư nước ngoài vào du lịch) của Liên hợp quốc [106]. Công trình này đã chỉ ra rằng, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm các yếu tố để quyết định đầu tư vào du lịch là: (1) Quy mô và phạm vi của thị trường: Quy mô hiện tại, tiềm năng tương lai cho du lịch trong nước và quốc tế; cơ cấu các loại hình dịch vụ du lịch; chất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch hiện có.

(2) Lực lượng lao động: Quy mô và độ tuổi của lực lượng lao động, kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ đào tạo và chất lượng của lực lượng này; chất lượng lao động quản lý của địa địa phương, kiến thức ngoại ngữ; chi phí sử dụng lao động. (3) Cơ sở hạ tầng: Đường bộ, cảng biển và sân bay (chất lượng, sức chứa, điểm đến, khoảng cách); hệ thống cấp điện, nước, và viễn thông. Các dịch vụ thông tin du lịch, đại lý du lịch, mạng lưới tiếp thị và phân phối dịch vụ du lịch. (5) Khung pháp lý cho hoạt động đầu tư và kinh doanh du lịch như: luật thương mại và môi trường, luật du lịch, khả năng mua lại hoặc cho thuê đất; ưu đãi đầu tư, quản lý nhà nước về du lịch, việc đảm bảo thực thi pháp luật.

Trong bài viết này, các tác giả đã đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào du lịch. Các nhân tố này là: Thứ nhất, môi trường đầu tư. Các tác giả cho rằng môi trường đầu tư đề cập đến ở đây là môi trường pháp lý của nước chủ nhà, môi trường thể chế, chính sách kinh tế và sự hiếu khách đối với đầu tư nước ngoài. Một môi trường đầu tư tốt ở nước sở tại 8 sẽ thu hút đầu tư nước ngoài vào nước này mạnh mẽ.

Thứ hai, quy mô du lịch nước ngoài đến nước chủ nhà. Các tác giả đã dẫn chứng rằng so với kinh doanh du lịch nội địa ở Trung Quốc, kinh doanh du lịch ở nước ngoài có tỷ suất lợi nhuận cao hơn đối với các doanh nghiệp Trung Quốc. Một lượng lớn khách du lịch đến nước sở tại từ Trung Quốc có nghĩa là có một cơ sở tốt để điều hành kinh doanh du lịch nước ngoài tại quốc gia đó. Do đó, số lượng khách du lịch từ Trung Quốc đến nước sở tại được chọn là một trong những tiêu chí quan trọng để thu hút các nhà đầu tư kinh doanh du lịch đầu tư từ Trung Quốc đến nước sở tại.

Thứ ba, quy mô kinh tế du lịch. Theo các tác giả thì việc tìm kiếm thị trường là một trong những lý do chính của đầu tư du lịch ra bên ngoài. Do đó, quy mô kinh tế du lịch của nước chủ nhà sẽ đại diện cho quy mô thị trường của du lịch của đất nước, nó có thể sẽ ảnh hưởng đến quyết định của các công ty nước ngoài đầu tư vào ngành du lịch. Khi có quy mô thị trường lớn ở nước chủ nhà và mức độ tiêu dùng du lịch cao, khả năng thu được lợi nhuận thông qua đầu tư vào ngành du lịch của nước chủ nhà có thể được đảm bảo thì mức độ thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào phát triển du lịch sẽ tăng lên.

Thứ tư, cấp độ thương mại và đầu tư giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư vào du lịch. Các tác giả cho rằng có một mối quan hệ bổ sung và thay thế giữa thương mại và đầu tư. Nhiều doanh nghiệp đầu tư du lịch là các doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, xây dựng, bất động sản. để phát triển kinh doanh họ đẩy mạnh các hoạt động thương mại và lấy du lịch làm kinh doanh phụ trợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ