Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây lương thực. 8 Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển cây lương thực của tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2005 - 2015. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển cây lương thực tỉnh Kiên Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY LƯƠNG THỰC 1.
Các khái niệm và phân loại cây lương thực 1. Các khái niệm - Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp có thể hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng bao gồm: Nông, lâm nghiệp, thủy sản. Theo nghĩa hẹp bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
- Ngành trồng trọt Ngành trồng trọt là ngành sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp. Đối tượng sản xuất ngành trồng trọt là các loại cây lương thực thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, ruộng đất vì thế trồng trọt là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên. - Phát triển Phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. - Cây lương thực Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn.
- Cơ cấu, cơ cấu cây trồng Cơ cấu hay còn gọi là cấu trúc, là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành đối tượng trong một thời gian, không gian nhất định. 10 Cơ cấu cây trồng có thể quan niệm trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn: “ Là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn. Nó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với chất, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn – một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nền kinh tế quốc dân”. Cơ cấu cây trồng còn là bộ phận chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta.
Sự phát triển của cơ cấu cây trồng còn tùy thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xả hội. Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu. Cơ cấu cây trồng có thể được hình thành từ nhiều nhóm, chẳng hạn cây lương thực có lúa, ngô, khoai lang, sắn, rau màu. Cơ cấu cây trồng còn là một trong những nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp.
Xét trong phạm vi các điều kiện canh tác thì cơ cấu cây trồng thể hiện thành phần các loại cây trồng được bố trí theo từng địa điểm và thời gian cụ thể. Vì thế xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung của công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp. Muốn phát triển trồng trọt ở từng vùng đạt hiệu quả kinh tế cao trước hết phải xem xét việc bố trí cây trồng thích hợp nhất với điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của vùng. Do đó cấu trúc một cơ cấu cây trồng thích hợp không những phát triển được sản xuất một cách lợi nhất mà còn bảo vệ tốt đất đai và môi trường.
- Tổ chức lãnh thổ Tổ chức lãnh thổ là toàn bộ quá trình hay hành động của con người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên trong các mối quan hệ, liên hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. (Nguyễn Minhh Tuệ, 2010) - Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp là hình thức của tổ chức lãnh thổ kinh tế- xã hội. 11 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên các cơ sở quy trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hóa, liên hợp hóa sản xuất, cho phép sử dụng hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất (Nguyễn Minh Tuệ, 2010). Phân loại cây lương thực Trên thế giới có nhiều cách phân loại khác nhau về cây lương thực, tuy nhiên cách phân loại phổ biến nhất là cách phân loại của tổ chức Lương Thực Và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO).
Cây lương thực được chia thành hai nhóm chính: Cây lương thực lấy hạt và cây lương thực lấy củ. Cây lương thực lấy hạt: Chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm năm loại: Lúa gạo (Rice), lúa mì (Wheat), ngô (Maize), Kê (Sorghum), lúa mạch (Barli). Năm loại lương thực có hạt này gọi chung là ngũ cốc. Cây lương thực lấy củ: Có nhiều loại nhưng phổ biến là khoai lang và sắn.
Ở Việt Nam cách phân loại cây lương thực cũng giống như trên, cũng chia thành hai nhóm chính là cây lương thực lấy hạt và cây lương thực lấy củ. Vai trò và vị trí của cây lương thực Xuất phát từ nhu cầu và thực tế cuộc sống của con người cho ta thấy rằng lương thực có vị trí hàng đầu trong việc bảo đảm cho sự tồn tại của con người từ xưa đến nay. An ninh lương thực là nền tảng để phát triển đất nước ở mọi quốc gia. Các Mác đã khẳng định, con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới nói đến các hoạt động khác.
Đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng quan trọng như sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Vai trò của cây lương thực - Đảm bảo lương thực cho người dân Lương thực là bộ phận chủ yếu cấu thành trong nguồn thức ăn hàng ngày của con người. Nó thỏa mãn nhu cầu về năng lượng cho cơ thể con người. Nó là loại sản phẩm thiết yếu của đời sống con người và không thể thay thế được.
Sản xuất cây lương thực là ngành chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, điều quan trọng bậc nhất đảm bảo cho sự phát triển về mặt kinh tế của đất nước. Trong 12 bất cứ xã hội nào, lương thực – cái ăn của con người thường được đặt lên hàng đầu. Các nhà kinh tế đều có ý kiến thống nhất rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là phải tăng cường lương thực cho nền kinh tế quốc dân bằng việc phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực, điều đó tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Vì vậy việc phát triển mạnh sản xuất lương thực, giải quyết tốt vấn đề lương thực có ý nghĩa kinh tế to lớn với nền kinh tế cũng như đối với nông nghiệp.
- Sản xuất lương thực tạo nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế và lao động Lương thực là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến. Cho nên trông chừng mực nhất định, lương thực sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến. Để đáp ứng nhu cầu của việc chế biến, các vùng chuyên canh đã được hình thành. Đó các vùng tập trung ở hai đồng bằng lớn của nước ta.
Là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long. Sản xuất lương thực giúp tăng nguồn lương thực phục vụ tốt cho lực lượng lao động, tái tạo lại sức lao động cho con người để tiếp tục sản xuất các giá trị vật chất khác làm cho đời sống con người ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Sản xuất lương thực còn góp phần thu nhập, tạo thêm việc làm cho phần lớn người dân ở nông thôn, thu hút nhiều lao động ở nông thôn. Giải quyết vấn đề lương thực có tác dụng to lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.
Nó cung cấp lương thực cho dân cư phi nông nghiệp và nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến. Phát triển sản xuất lương thực còn có ý nghĩa to lớn đối với việc củng cố về tăng cường khả năng quốc phòng, tăng nguồn dự trữ quốc gia để phòng chống thiên tai. - Sản xuất lương thực tạo ra các mặt hàng có giá trị nhằm tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước. Năm 2015: + Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước đạt khoảng 12.
Trong đó riêng gạo xuất khẩu được 6.054 nghìn tấn đạt khoảng 2.560 triệu USD, chiếm 20% giá trị xuất khẩu. Sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu khoảng 3.755 nghìn tấn đạt 1.194 triệu USD chiếm 9,4% trong tổng giá trị xuất khẩu. + Vùng đồng bằng Sông Cửu Long hàng năm cung cấp 50% sản lượng gạo quốc gia, 90% sản lượng gạo xuất khẩu cả nước (khoảng 7-8 tấn/ năm, chiếm 1/5 sản lượng gạo thương mại toàn cầu), đóng góp 41% giá trị sản xuất cho ngành nông nghiệp và 20% GDP cho cả nước. + Tỉnh Kiên Giang tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt khoảng 29.404 tỷ đồng, chỉ riêng cây lương thực có hạt đạt khoảng 24.525 tỷ đồng, chiếm hơn 80% trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành.
Vị trí của cây lương thực Cây lương thực có vị trí quan trọng, vì thế nhiều trước trên thế giới rất coi trọng phát triển cây lương thực, tìm các biện pháp để tăng nhanh năng suất ruộng đất, năng suất lao động trong khu vực sản xuất. Nước ta năm 2005 (diện tích lương thực có hạt: 8.383 nghìn ha sản lượng đạt khoảng 39.622 nghìn tấn), nhưng đến năm 2015 (diện tích tăng lên khoảng 9.015 ngìn ha, Năm 2015, sản lượng lương thực có hạt của cả nước đạt 50,5 triệu tấn, tăng 319,8 nghìn tấn so với năm 2014, trong đó sản lượng lúa đạt 45,2 triệu tấn, tăng 241 nghìn tấn; ngô đạt 5,3 triệu tấn, tăng 78,7 nghìn tấn. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người năm 2015 đạt 550,6 kg.