CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Diện tích rừng trồng trong các nước nhiệt đới Theo Ivan Tomaselli (2007) [20], trong bài viết “sự cám dỗ của rừng trồng” trong ITTO-2007 cập nhật rừng trồng nhiệt đới thì việc sản xuất gỗ tròn của rừng tự nhiên nhiệt đới đã giảm nhiều, trong đó sản xuất gỗ tròn công nghiệp nhiệt đới của các nước thành viên ITTO đang ở mức 122 - 126 triệu m3 trong vòng 5 năm trở lại đây (ITTO 2007) so với mức 140 triệu m3 đạt được trong thập niên 1990. Do vậy ngành công nghiệp chế biến gỗ nhiệt đới trông cậy vào các giải pháp thay thế nguồn cung cấp gỗ công nghiệp: Đó là nhập khẩu và sản xuất gỗ xẻ rừng trồng.
Rừng trồng trong các nước nhiệt đới được kỳ vọng đóng vai trò cứu tinh của rừng tự nhiên nhiệt đới bởi vì rừng trồng có năng suất cao và giá thành thấp và có khả năng thay thế rừng tự nhiên trong cung cấp gỗ xẻ cho công nghiệp chế biến gỗ. Hơn nữa rừng trồng có thể thúc đẩy kinh tế phát triển vì cung ứng gỗ nguyên liệu cho chuỗi công nghệ chế biến gỗ. Nhiều nước nhiệt đới đã và đang thực hiện chương trình trồng rừng lớn. Năm 2006 một khảo sát của ITTO về trồng rừng cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành công nghệ chế biến trên các nước nhiệt đới cho thấy khoảng 67 triệu ha rừng trồng nhiệt đới, trong đó 80% thuộc các nước nhiệt đới Châu Á - Thái Bình Dương, 13% thuộc các nước Mỹ Latinh và Caribe, 7% Châu Phi.
Diện tích rừng trồng nhiệt đới cung ứng cho công nghiệp chế biến gỗ Tổng diện tích Diện tích rừng Tỉ lệ rừng trồng so với Vùng rừng (1.000 ha) tổng diện tích rừng (%) Châu Á - Thái 50.640 46 Bình Dương Châu Phi 4.528 75 Mỹ La Tinh 8.136 53 (Nguồn: FAO, 2005) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Bảng trên cho thấy ước tính diện tích rừng trồng công nghiệp trong vùng nhiệt đới và phân bố trong 3 vùng nhiệt đới, trong số 36 triệu ha có khả năng sản xuất thì Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 68%. Cây mọc nhanh như keo và bạch đàn được trồng nhiều trên các nước nhiệt đới chiếm 24% (8,6 triệu ha) của diện tích rừng trồng sản xuất, thông chiếm 6,4 triệu ha, cao su chiếm 6,4 triệu ha nhưng số lớn không khai thác cho chế biến gỗ, ngoài ra Giá tị (teak) cũng được trồng nhiều. Ước tính gỗ tròn công nghiệp sản xuất trong các nước nhiệt đới (2004) Sản xuất gỗ tròn công nghiệp (1.000 m3) Tỉ lệ rừng trồng sản Vùng xuất so với tổng sản Tổng sản xuất Sản xuất từ rừng trồng xuất (%) Châu Á-Thái 144.800 46,1 Bình Dương Châu Phi 34.580 8,0 Mỹ La Tinh 134.280 47,9 (Nguồn: FAO, 2005) Trong tổng số sản xuất gỗ tròn công nghiệp của các nước nhiệt đới 322 triệu m3 thì gỗ tròn sản xuất từ rừng trồng chiếm 47,9%. Trong các vùng nhiệt đới thì vùng Châu Á - Thái Bình Dương gỗ công nghiệp sản xuất từ rừng trồng chiếm 46%, Châu Mỹ Latinh là 63% trong số này đa số là gỗ nguyên liệu ván dăm và giấy.
Nếu phân loại ra gỗ tròn sản xuất từ rừng trồng cho công nghiệp chế biến (gỗ xẻ, gỗ ván lạn, gỗ bột giấy, ván dăm, ván cứng và MDF) thì gỗ rừng trồng cung ứng 80% gỗ nguyên liệu cho ván dăm, bột giấy và MDF và ván cứng vì rừng trồng thường sản xuất gỗ có đường kính gỗ nhỏ trong khi công nghệ gỗ xẻ và ván lạn thường đòi hỏi gỗ có đường kính lớn, ngoài ra cũng có khoảng 31% gỗ xẻ được cung ứng từ các loại rừng trồng như keo, bạch đàn, cao su, thông. Các nước như Brasil, Chile, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan thường sản xuất đồ gỗ hàng hóa từ gỗ tròn của rừng trồng. Kỳ vọng từ rừng trồng tại các vùng nhiệt đới Rừng trồng nhiệt đới có tiềm năng cung cấp nguồn nguyên liệu chế biến gỗ, đặc biệt tăng trưởng trung bình hằng năm của rừng trồng nhiệt đới thường gấp 5 - 19 lần Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 rừng tự nhiên, còn nếu so với rừng trồng các nước Ôn đới và Á nhiệt đới thì còn cao hơn nhiều, ngoài ra giá thành trồng rừng thấp, do vậy giá gỗ công nghiệp chế biến từ rừng trồng rẽ hơn nhiều so với rừng tự nhiên, cũng như rừng trồng vùng Ôn đới. Chứng chỉ rừng trồng tại các vùng nhiệt đới Có khoảng 3,2 triệu ha rừng trồng của các nước vùng nhiệt đới được cấp chứng chỉ trong năm 2004, trong đó 90% diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ thuộc về các nước Mỹ Latinh và Caribe, phần lớn trong đó rừng trồng được cấp chứng chỉ thuộc Brasil vì rừng trồng thường gắn với công nghệ sản xuất giấy và bột giấy.
Một cách tổng quát diện tích rừng trồng trong các nước nhiệt đới để sản xuất gỗ chế biến ngoài công nghiệp giấy và ván dăm là không đáng kể. Rừng trồng được cấp chứng chỉ Tổng diện tích Diện tích CCR Vùng Tổng (1.000 ha) FSC PEFC MTTC Mỹ La Tinh 7.694 64,8 77 141,8 Bình Dương Tổng 35. Chính sách về rừng trồng Trong quá khứ việc phát triển rừng trồng bị hạn chế vì chính sách liên quan đến rừng trồng của các nước không rõ ràng. Giờ đây thì chính sách lâm nghiệp của các nước trong vùng nhiệt đới chú trọng đến quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn động vật hoang dã, lâm nghiệp xã hội và lâm nghiệp cộng đồng.
Tuy nhiên hiện nay, một số nước đang quan tâm đến chính sách phát triển rừng trồng thương mại và phát triển công nghệ chế biến gỗ dựa vào rừng trồng. Động lực phát triển rừng trồng Một vài nước nhiệt đới như Brasil và Malaysia, trong quá khứ đã phát triển rừng trồng mạnh mẽ, và bây giờ công nghệ chế biến gỗ dựa vào rừng trồng rất mạnh và có thế đứng vững chắc thị trường gỗ nội địa cũng như quốc tế, động lực này thúc đẩy xã hội phát triển như tạo công ăn việc làm, giảm áp lực vào môi trường và tài Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nguyên thiên nhiên và đây là phương tiện tăng cường kinh tế của những bên liên quan đặc biệt những cộng đồng địa phương. Trong nước Theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020 thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất quy hoạch cho Lâm nghiệp. Riêng mục tiêu cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Hội đồng quản lý rừng (FSC) là 30% diện tích rừng sản xuất tương đương với trên 1,86 triệu ha.
Theo các tài liệu đã có được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%; thời kỳ 1980-1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng đã bị mất. Nhưng từ 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm). Theo công bố tại Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 28 tháng 7 năm 2014, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, diện tích rừng toàn quốc là 13.160 ha rừng tự nhiên và 3.294 ha rừng trồng. Trên phạm vi toàn quốc, nước ta đã vượt qua được thời kỳ suy thoái diện tích rừng.
Diện tích rừng tăng từ 9,3 triệu ha năm 1995 lên 11,31 triệu ha năm 2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân tăng khoảng 0,3 triệu ha/năm). Diện tích rừng trồng mới tăng từ 50.000 ha/năm, diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khoảng 2.000 m3/năm, cung cấp một phần nguyên liệu cho công nghiệp giấy, mỏ, dăm gỗ xuất khẩu và củi đun, góp phần giảm sức ép vào rừng tự nhiên. Nhà nước quan tâm hơn đến việc bảo vệ và phát triển rừng, đã có những chính sách và chương trình mục tiêu đầu tư lớn như chính sách giao đất giao rừng, Chương trình 327, 661, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
Nhận thức của xã hội, của các tầng lớp nhân dân và chính quyền các cấp về bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên. Mục tiêu của Chiến lược lâm nghiệp là: - Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng, bao gồm rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung, lâm sản ngoài gỗ. và 3,63 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Diện tích phục hồi rừng tự nhiên và nông lâm kết hợp là 0,62 triệu ha.
Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 xuất có chứng chỉ rừng (là diện tích được đánh giá và cấp giấy xác nhận đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững). Quy hoạch hợp lý, quản lý và sử dụng có hiệu quả hệ thống rừng phòng hộ khoảng 5,68 triệu ha và rừng đặc dụng 2,16 triệu ha. - Trồng rừng mới 1,0 triệu ha đến năm 2010 và 1,5 triệu ha cho giai đoạn sau. Trồng lại rừng sau khai thác 0,3 triệu ha/năm; Định hướng: + Tổng diện tích rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu ha, trong đó có 3,63 triệu ha rừng tự nhiên và 4,15 triệu ha rừng trồng; chú trọng xây dựng các vùng rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung; quản lý sử dụng bền vững theo hướng đa mục đích.
Diện tích đất quy hoạch cho phát triển rừng sản xuất còn lại 0,62 triệu ha rừng tự nhiên nghèo kiệt được sử dụng để phục hồi rừng và sản xuất nông lâm kết hợp. Trồng rừng thương mại tiểu điền của Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (FSDP) đang hỗ trợ các hộ gia đình phát triển rừng trồng thương mại đem lại thu nhập và tạo việc làm tại những khu vực nông thôn [7]. Dự án được thực hiện từ năm 2005 đến tháng 3 năm 2015 tại các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, và đến năm 2012 mở rộng thêm hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa.