Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế và phát triển nông thôn, vấn đề sinh kế bền vững cùng việc đảm bảo thu nhập cho cư dân nông thôn đóng vai trò then chốt đối với sự ổn định kinh tế - xã hội. Khi cơ chế bao cấp được xóa bỏ và sản xuất nông nghiệp dịch chuyển theo hướng kinh tế hàng hóa, sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng miền, đặc biệt giữa khu vực đô thị và nông thôn vùng cao, ngày càng gia tăng. Tại các vùng miền núi, nơi quỹ đất sản xuất và đất ở hạn chế trong khi quy mô dân số tiếp tục tăng, nguồn lực lao động dồi dào chưa được khai thác và sử dụng hợp lý. Việc lựa chọn phương thức sinh kế và tạo lập nguồn thu nhập ổn định cho nông hộ chịu sự chi phối phức tạp từ điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn tài chính đến năng lực con người và các yếu tố xã hội.
Tại xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang – một địa bàn vùng cao núi đá đặc thù, các hoạt động sinh kế và cơ cấu thu nhập của người dân đã có những chuyển biến nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống. Mặc dù nhiều chương trình hỗ trợ phát triển sinh kế và bảo tồn đã được triển khai, việc đánh giá toàn diện hiệu quả thực tế, mức độ hưởng lợi của cộng đồng và tính bền vững của các mô hình kinh tế nông hộ vẫn đặt ra yêu cầu cấp thiết.
Khóa luận xác định mục tiêu chung là tìm hiểu, phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế và cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của nông hộ tại xã Sủng Là, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, gia tăng và ổn định thu nhập cho người dân. Các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:
- Mục tiêu 1: Tìm hiểu thực trạng sản xuất và thu nhập của nông hộ tại xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Mục tiêu 2: Phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố khác tác động đến thu nhập của nông hộ tại xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn của nông hộ, giúp nâng cao và ổn định nguồn thu nhập cho nông hộ ở xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ dân cùng toàn bộ hoạt động sinh kế và thu nhập của nông hộ tại xã Sủng Là.
- Phạm vi nội dung: Hoạt động sinh kế tạo thu nhập của hộ gồm lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) và hoạt động phi nông nghiệp (thương mại, dịch vụ, làm thuê).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu khảo sát thực địa tại 04 xóm thuộc xã Sủng Là: Lũng Cẩm Trên, Sáng Ngài, Pù Trừ Lủng và Lao Xa.
- Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp và khảo sát thực địa được thực hiện từ tháng 2/2018 đến tháng 6/2018; số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014 – 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa kinh tế nông nghiệp và xã hội học phát triển nông thôn, vận dụng các lý thuyết và khái niệm nền tảng:
- Khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (2001): Sinh kế được cấu thành từ 3 thành tố chính gồm nguồn lực/tài sản sinh kế (Vốn con người, Vốn tự nhiên, Vốn tài chính, Vốn vật chất, Vốn xã hội), Chiến lược sinh kế (các hoạt động kinh tế) và Kết quả sinh kế (thu nhập, mức sống, an ninh lương thực, giảm tính tổn thương). Khung phân tích này cũng xem xét tác động từ bối cảnh tổn thương (cú sốc, biến động thời vụ) và các thể chế, chính sách quản trị.
- Quan niệm về sinh kế và nông hộ: Tiếp thu định nghĩa của Scoones (1998), Ellis (1988), Chambers & Conway (1992), Đào Thế Tuấn (1997), Lê Đình Thắng (1993) và Nguyễn Sinh Cúc (2011) về bản chất kinh tế hộ là đơn vị sản xuất cơ bản, tự chủ trong nông nghiệp, vận hành chủ yếu dựa trên sức lao động gia đình và tham gia cục bộ vào thị trường.
- Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng (A. Durkheim, H. Spencer): Xem xét cấu trúc tổ chức thôn xóm và quan hệ cộng đồng như một chỉnh thể thống nhất, giải thích mối quan hệ kinh tế - xã hội tương hỗ giữa các hộ gia đình trong việc lựa chọn và thực thi sinh kế.
- Lý thuyết Lựa chọn hợp lý (Rational Choice Theory): Giải thích hành vi của người nông dân trong việc tính toán, cân nhắc phân bổ nguồn lực hữu hạn (đất đai, lao động, vốn) nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế và đảm bảo an toàn đời sống trước các ràng buộc tự nhiên và thị trường.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, khí hậu, năng suất cây trồng vật nuôi từ UBND xã Sủng Là, thư viện Khoa Kinh tế và PTNT (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) và các văn bản chính sách liên quan (Chương trình 135, Nghị quyết 30a, Đề án 1956).
- Thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu $n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$ với mức sai số cho phép $e = 10%$. Tổng số mẫu khảo sát là 89 hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có điều kiện, phân bổ trên 04 xóm đại diện và phân tầng theo 3 nhóm kinh tế hộ (nghèo, cận nghèo, trung bình).
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Ghi nhận hiện trường về phương thức canh tác trên nương đá, điều kiện hạ tầng, chuồng trại chăn nuôi và tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, phân tổ thống kê, tính tỷ lệ phần trăm và tổng hợp so sánh trên phần mềm Microsoft Excel.
| Xóm |
Hộ trung bình (Số hộ / Tỷ lệ %) |
Hộ cận nghèo (Số hộ / Tỷ lệ %) |
Hộ nghèo (Số hộ / Tỷ lệ %) |
Tổng cộng (Số hộ / Tỷ lệ %) |
| Lũng Cẩm Trên |
7 (7,9%) |
8 (9,0%) |
6 (6,7%) |
21 (23,6%) |
| Sáng Ngài |
6 (6,7%) |
8 (9,0%) |
6 (6,7%) |
20 (22,4%) |
| Pù Trừ Lủng |
8 (9,0%) |
7 (7,9%) |
10 (11,2%) |
25 (28,1%) |
| Lao Xa |
7 (7,9%) |
7 (7,9%) |
9 (10,1%) |
23 (25,9%) |
| Tổng cộng |
28 (31,5%) |
30 (33,8%) |
31 (34,7%) |
89 (100,0%) |
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về sinh kế nông hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại cao nguyên đá Hà Giang. Xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại 04 xóm của xã Sủng Là. Nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền địa phương xây dựng định hướng phát triển sinh kế.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp hệ thống lý luận về sinh kế, các nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, con người, tài chính, vật chất, xã hội) theo khung DFID; các khái niệm về kinh tế hộ nông dân, cơ cấu thu nhập và phân loại thu nhập nông thôn. Rà soát tiến trình phát triển sinh kế nông hộ tại Việt Nam qua các thời kỳ (thời kỳ thuộc Pháp, giai đoạn 1955–1959, giai đoạn tập thể hóa 1960–1980, cơ chế khoán theo Chỉ thị 100-CT/TW, đổi mới quản lý nông nghiệp theo Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 và giai đoạn từ 2009 đến nay). Trình bày kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển sinh kế vùng núi tại Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia và tổng quan các công trình nghiên cứu sinh kế tại Sơn La, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Nghệ An.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định đối tượng nghiên cứu là 89 nông hộ và các hoạt động kinh tế tại 4 xóm Lũng Cẩm Trên, Sáng Ngài, Pù Trừ Lủng, Lao Xa thuộc xã Sủng Là trong thời gian từ tháng 2/2018 đến tháng 6/2018. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nhóm hộ và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi đóng/mở kết hợp quan sát thực địa và tổng hợp dữ liệu thứ cấp.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đánh giá chi tiết đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên tại địa bàn xã Sủng Là:
- Tổng diện tích tự nhiên đạt 1.636,55 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm 54,91% (898,50 ha), đất lâm nghiệp chiếm 16,22% (265,39 ha), đất ở chiếm 15,69% (256,9 ha). Địa hình núi đá tai mèo có độ cao từ 600 – 800m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 22 – 23°C, độ ẩm bình quân 82%, lượng mưa trung bình năm từ 1.800 – 2.000 mm.
- Tình hình dân số: Toàn xã có 841 hộ với 3.367 nhân khẩu (1.684 nữ). Tỷ lệ sinh 13,5%, tỷ lệ tử 3,2%, tỷ lệ tăng tự nhiên đạt 9,77%.
| Loại cây trồng |
Diện tích năm 2017 (ha) |
Năng suất năm 2017 (Tạ/ha) |
Sản lượng năm 2017 (Tấn) |
| Ngô |
495,8 |
143,0 |
2.382,5 |
| Lúa |
102,8 |
50,0 |
156,4 |
| Đậu tương |
65,0 |
13,1 |
85,2 |
| Rau màu |
91,6 |
58,8 |
821,5 |
| Tam giác mạch |
55,0 |
5,3 |
29,2 |
Về chăn nuôi, tổng đàn năm 2017 gồm: 1.292 con bò, 810 con dê, 2.890 con lợn và 24.953 con gia cầm.
Phân tích đặc điểm nhân khẩu - kinh tế của 89 hộ khảo sát:
- Quy mô nhân khẩu bình quân đạt 4,4 khẩu/hộ (Sáng Ngài cao nhất với 4,7 khẩu; Lao Xa thấp nhất với 4,1 khẩu); số lao động chính bình quân là 2,0 người/hộ; độ tuổi bình quân của chủ hộ là 44,9 tuổi.
- Tỷ lệ giới tính chủ hộ: 96,6% là nam giới (86 hộ), chỉ có 3,3% là nữ giới (3 hộ).
- Cơ cấu nghề nghiệp: Hộ thuần nông chiếm áp đảo với 95,5% (85 hộ), hộ sản xuất hỗn hợp (nông nghiệp kết hợp dịch vụ/nghề phụ) chỉ chiếm 4,5% (4 hộ).
- Tư liệu sản xuất đất đai: Bình quân mỗi hộ sở hữu 1.862,7 m² đất ruộng, 2.512,2 m² đất canh tác rẫy và 0,7 ha đất rừng. Diện tích đất canh tác có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm hộ: hộ trung bình sở hữu 2.285,0 m² đất ruộng và 3.320,0 m² đất rẫy; hộ nghèo chỉ có 1.350,0 m² đất ruộng và 1.668,8 m² đất rẫy.
| Phân loại kinh tế hộ |
Đất canh tác ruộng (m²/hộ) |
Đất canh tác rẫy (m²/hộ) |
Đất rừng (ha/hộ) |
| Hộ trung bình |
2.285,0 |
3.320,0 |
1,0 |
| Hộ cận nghèo |
1.953,1 |
2.548,1 |
0,6 |
| Hộ nghèo |
1.350,0 |
1.668,8 |
0,4 |
| Bình quân chung |
1.862,7 |
2.512,2 |
0,7 |
Phân tích cơ cấu thu nhập của nông hộ:
- Thu nhập từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối, đạt bình quân 91,7% tổng thu nhập (Lũng Cẩm Trên đạt 96,9%, Lao Xa đạt 93,4%, Sáng Ngài đạt 90,0%, Pù Trừ Lủng đạt 86,5%). Xét theo nhóm hộ: hộ nghèo có tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp lên tới 98,9%, hộ cận nghèo đạt 91,7% và hộ trung bình là 84,5%.
- Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng thu nhập từ trồng trọt bình quân chiếm 42,6% (Lũng Cẩm Trên cao nhất với 48,1%, Sáng Ngài thấp nhất với 37,4%). Hộ nghèo phụ thuộc vào trồng trọt nhiều nhất (chiếm 54,1% thu nhập), hộ cận nghèo chiếm 43,6%, trong khi hộ trung bình chỉ chiếm 30,2% do có điều kiện đa dạng hóa sang chăn nuôi và hoạt động khác.
| Xóm điều tra |
Tỷ trọng thu nhập nông nghiệp theo nhóm hộ (%) |
|
|
Bình quân xóm (%) |
Tỷ trọng thu nhập trồng trọt bình quân (%) |
|
Hộ TB |
Hộ cận nghèo |
Hộ nghèo |
|
|
| Lũng Cẩm Trên |
92,6 |
98,0 |
100,0 |
96,9 |
48,1 |
| Sáng Ngài |
80,7 |
90,1 |
99,2 |
90,0 |
37,4 |
| Pù Trừ Lủng |
74,8 |
86,3 |
98,5 |
86,5 |
39,7 |
| Lao Xa |
90,0 |
92,3 |
98,0 |
93,4 |
45,5 |
| Bình quân |
84,5 |
91,7 |
98,9 |
91,7 |
42,6 |
Phần 5: Các giải pháp đẩy mạnh đa dạng hóa sinh kế cho nông hộ
Đề xuất khung giải pháp toàn diện và định hướng cụ thể theo từng nhóm nguồn lực và phân loại hộ:
- Xây dựng chiến lược sinh kế dựa trên 5 nhóm yếu tố: quản lý vốn tự nhiên (chống xói mòn, canh tác nương đá bền vững), phát triển nhân tố con người (đào tạo nghề lao động nông thôn theo Đề án 1956, tập huấn kỹ thuật), củng cố quan hệ xã hội cộng đồng, khơi thông nguồn vốn tín dụng chính sách (Chương trình 135, 30a) và hoàn thiện cơ sở vật chất hạ tầng giao thông, thủy lợi.
- Phân bổ giải pháp theo nhóm hộ: hỗ trợ giống, kỹ thuật cơ bản và trợ cấp cho hộ nghèo; hỗ trợ mở rộng quy mô đàn gia súc (bò, lợn, gia cầm) và vốn vay ưu đãi cho hộ cận nghèo; khuyến khích hộ trung bình phát triển mô hình kinh tế trang trại nhỏ, dịch vụ nông thôn và tiểu thủ công nghiệp.
- Tổng hợp kết luận nghiên cứu và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Thực trạng phân bố nguồn lực sản xuất: Khóa luận chỉ ra rằng diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại xã Sủng Là phân bố không đồng đều giữa các nhóm hộ. Hộ trung bình có diện tích đất rẫy (3.320,0 m²) gấp gần 2 lần so với hộ nghèo (1.668,8 m²); đất ruộng gấp 1,69 lần (2.285,0 m² so với 1.350,0 m²). Tình trạng thiếu đất sản xuất là nguyên nhân trực tiếp hạn chế năng lực tạo thu nhập của nhóm hộ nghèo.
- Cơ cấu kinh tế và tính phụ thuộc đơn nhất vào nông nghiệp: Nông nghiệp đóng vai trò sống còn, đóng góp 91,7% tổng thu nhập hộ gia đình. Tỷ lệ hộ thuần nông chiếm tới 95,5% tổng số mẫu điều tra. Hoạt động phi nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (8,3% bình quân toàn xã) và chủ yếu phát triển ở xóm trung tâm (Sáng Ngài có thu nhập phi nông nghiệp đạt 10,0%, trong khi Lũng Cẩm Trên chỉ đạt 3,1%).
- Mối quan hệ giữa mức độ nghèo đói và cơ cấu thu nhập: Nghiên cứu chỉ ra quy luật: Hộ gia đình có mức sống càng thấp thì mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp và trồng trọt càng cao (thu nhập nông nghiệp của hộ nghèo chiếm 98,9%, thu nhập từ trồng trọt chiếm 54,1%). Ngược lại, nhóm hộ trung bình có xu hướng đa dạng hóa sinh kế sang chăn nuôi bò, gia cầm và các dịch vụ buôn bán nhỏ, giúp giảm tỷ trọng trồng trọt xuống còn 30,2%.
- Hệ thống hóa số liệu thực địa: Cung cấp bức tranh dữ liệu chi tiết về năng suất cây trồng (ngô 143 tạ/ha, lúa 50 tạ/ha, tam giác mạch 5,3 tạ/ha) và cơ cấu vật nuôi (tổng đàn bò 1.292 con, lợn 2.890 con) trên địa bàn xã năm 2017.
Hệ thống giải pháp đề xuất
- Giải pháp chung: Đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật trồng trọt và phòng chống dịch bệnh gia súc; mở rộng các lớp dạy nghề theo Đề án 1956; tăng cường tiếp cận vốn vay ưu đãi phục vụ phát triển chăn nuôi bò thịt và gia cầm; cải tạo đất canh tác chống xói mòn, rửa trôi trên nền địa hình núi đá.
- Giải pháp theo nhóm hộ:
- Hộ nghèo: Tập trung bảo đảm an ninh lương thực thông qua thâm canh tăng năng suất ngô, lúa trên diện tích hiện có; lồng ghép các chính sách hỗ trợ trực tiếp về cây con giống từ Chương trình 135 và 30a.
- Hộ cận nghèo: Hỗ trợ vốn vay để đầu tư phát triển đàn gia súc (bò, dê) và chăn nuôi gia cầm thương phẩm nhằm bứt phá thoát nghèo.
- Hộ trung bình: Định hướng chuyển dịch cơ cấu sang sản xuất hàng hóa, mở rộng dịch vụ thương mại nông thôn, tham gia phát triển mô hình kinh tế vườn - rừng kết hợp cây ăn quả (đào, lê, mận).
Đóng góp của đề tài
- Cung cấp bộ dữ liệu điều tra sơ cấp gồm 89 hộ tại 4 xóm vùng sâu của huyện Đồng Văn, phản ánh trung thực thực trạng kinh tế nông hộ tại địa bàn đặc thù vùng cao núi đá.
- Ứng dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững DFID kết hợp lý thuyết lựa chọn hợp lý để luận giải các rào cản sinh kế và nguyên nhân hạn chế thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Cỡ mẫu khảo sát giới hạn ở 89 hộ tại 04 xóm trên tổng số 841 hộ toàn xã (mức sai số chọn mẫu $e = 10%$). Dữ liệu tập trung phản ánh thực trạng tại thời điểm năm 2017 - 2018 nên chưa theo dõi được biến động sinh kế theo chuỗi thời gian dài hạn. Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, chưa đi sâu lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố thông qua các mô hình hồi quy kinh tế lượng phức tạp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát ra toàn bộ các xóm trong xã và các xã lân cận thuộc cao nguyên đá Đồng Văn; phân tích sâu hơn tác động của du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm mùa hoa tam giác mạch và quá trình đô thị hóa nông thôn đến sự chuyển dịch sinh kế phi nông nghiệp của các nông hộ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên, Xã hội học nông thôn; các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài về giảm nghèo bền vững và sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
- Giá trị thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học và nguồn dữ liệu thực chứng cho UBND xã Sủng Là, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đồng Văn cùng các tổ chức quản lý dự án phát triển nông thôn trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực hỗ trợ sinh kế và chính sách xóa đói giảm nghèo tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu hộ và phân bổ mẫu tại các địa bàn nào?
Nghiên cứu khảo sát tổng cộng 89 hộ nông dân tại 04 xóm thuộc xã Sủng Là: Pù Trừ Lủng (25 hộ, chiếm 28,1%), Lao Xa (23 hộ, chiếm 25,9%), Lũng Cẩm Trên (21 hộ, chiếm 23,6%) và Sáng Ngài (20 hộ, chiếm 22,4%). Mẫu điều tra được phân loại thành 31 hộ nghèo (34,7%), 30 hộ cận nghèo (33,8%) và 28 hộ trung bình (31,5%).
2. Nguồn thu nhập chính của nông hộ tại xã Sủng Là xuất phát từ đâu và chiếm tỷ trọng bao nhiêu?
Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính, chiếm bình quân 91,7% tổng thu nhập của các hộ điều tra. Trong đó, thu nhập từ trồng trọt chiếm tỷ trọng bình quân 42,6% (với các cây trồng chủ lực là ngô, lúa, tam giác mạch, đậu tương). Hoạt động phi nông nghiệp chỉ đóng góp bình quân 8,3% tổng thu nhập.
3. Có sự khác biệt như thế nào về diện tích đất canh tác giữa các nhóm hộ?
Có sự chênh lệch đáng kể về tư liệu sản xuất: Nhóm hộ trung bình sở hữu bình quân 2.285,0 m² đất ruộng, 3.320,0 m² đất rẫy và 1,0 ha đất rừng; trong khi nhóm hộ nghèo chỉ sở hữu 1.350,0 m² đất ruộng, 1.668,8 m² đất rẫy và 0,4 ha đất rừng.
4. Đặc điểm nhân khẩu và cơ cấu nghề nghiệp của các chủ hộ khảo sát ra sao?
Bình quân mỗi hộ có 4,4 nhân khẩu và 2,0 lao động chính; độ tuổi trung bình của chủ hộ là 44,9 tuổi. Về giới tính, 96,6% chủ hộ là nam giới (86 hộ) và 3,3% là nữ giới (3 hộ). Về nghề nghiệp, có tới 95,5% hộ là thuần nông (85 hộ), chỉ có 4,5% số hộ thực hiện hoạt động sản xuất hỗn hợp (4 hộ).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng Thị Sinh đã phân tích thực trạng sinh kế và thu nhập của 89 nông hộ tại xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang thông qua khung phân tích sinh kế bền vững DFID. Kết quả nghiên cứu khẳng định sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là trồng trọt ngô, lúa và chăn nuôi bò, lợn) vẫn giữ vai trò quyết định với 91,7% tỷ trọng thu nhập của người dân, trong khi kinh tế phi nông nghiệp chưa phát triển. Đề tài làm rõ mối liên hệ giữa sự thiếu hụt tư liệu đất đai, trình độ lao động với tỷ lệ nghèo đói tại địa phương. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sinh kế phân loại theo từng nhóm hộ và từng nguồn vốn nhằm góp phần nâng cao đời sống và giảm nghèo bền vững tại vùng cao núi đá Hà Giang.