Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của các tổ chức khí hậu quốc tế, Việt Nam xếp thứ 13 trong tổng số 16 quốc gia chịu rủi ro lớn nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu. Thống kê của cơ quan khí tượng thủy văn chỉ ra rằng trong 50 năm qua, có tới 38 năm Việt Nam phải đối mặt với hạn hán nghiêm trọng (chiếm 76%). Tỉnh Hà Nam nằm ở hạ lưu đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 86.049 ha, chiếm 4,08% diện tích toàn vùng. Mặc dù là địa bàn trọng điểm sản xuất lúa và rau màu nhưng Hà Nam thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu nước canh tác nghiêm trọng trong mùa khô, đặc biệt là vụ đông xuân khi lượng mưa chỉ chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa cả năm (đạt trung bình 319,32 mm).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự cộng hưởng giữa biến đổi khí hậu, hiện tượng El Nino cực đoan và việc hạ thấp mực nước các hệ thống sông chính như sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ khiến hệ thống thủy nông mất dần khả năng cấp nước tự chảy. Mục tiêu của luận văn là đánh giá định lượng hiện trạng hạn hán khí tượng, thủy văn và nông nghiệp tại Hà Nam trong giai đoạn 1986 - 2016; dự báo xu thế khô hạn theo các kịch bản phát thải khí nhà kính giai đoạn 2016 - 2035; từ đó thiết lập hệ thống giải pháp công trình và phi công trình thích ứng hiệu quả.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để bảo vệ ổn định 40.500 ha diện tích canh tác lúa và 3.000 ha rau màu công nghệ cao, hỗ trợ mục tiêu nâng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh đạt mốc 8.701 tỷ đồng và giá trị thu hoạch đạt 240 triệu đồng trên mỗi hecta đất canh tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá biến đổi khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC AR5) và hệ thống phân loại hạn hán của Wilhite và Glantz. Nghiên cứu tiếp cận toàn diện 4 loại hình hạn hán cốt lõi: hạn khí tượng (thiếu hụt lượng mưa kéo dài), hạn thủy văn (suy giảm lưu lượng và mực nước sông hồ), hạn nông nghiệp (độ ẩm đất thiếu hụt làm giảm 20% đến 50% năng suất cây trồng) và hạn kinh tế - xã hội (mất cân đối cung - cầu nước sinh hoạt, sản xuất).

Khung đánh giá tương lai dựa trên kịch bản phát thải nồng độ khí nhà kính đại diện được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố:

  • Kịch bản phát thải trung bình (RCP4.5): nồng độ CO2 đạt 650 ppm vào năm 2100, mức tăng nhiệt độ toàn cầu dự kiến khoảng 1,4°C, thúc đẩy lượng mưa hàng năm tăng từ 5% đến 15% nhưng phân bố bất đều theo mùa.
  • Kịch bản phát thải cao (RCP8.5): nồng độ CO2 đạt 1370 ppm vào năm 2100, mức tăng nhiệt độ toàn cầu lên tới 4,9°C, làm gia tăng cường độ các đợt nắng nóng cực đoan trên 35°C và kéo dài mùa khô hạn.

Nghiên cứu ứng dụng các mô hình lượng hóa chỉ số hạn nổi tiếng trên thế giới bao gồm: Chỉ số chuẩn hóa giáng thủy (SPI), Chỉ số hạn Ped và Chỉ số khô hạn cân bằng nước K (tỷ số giữa lượng bốc thoát hơi tiềm năng và lượng mưa thực tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác chuỗi số liệu quan trắc khí tượng bề mặt liên tục trong 31 năm (1986 - 2016) tại trạm khí tượng Phủ Lý và các trạm thủy văn lân cận như Yên Lệnh, Điệp Sơn, Nhật Tựu. Các tham số thu thập gồm lượng mưa ngày, nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao, độ ẩm không khí, số giờ nắng và lượng bốc hơi. Số liệu nông nghiệp và thiệt hại hạn hán được thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1998 - 2016.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu thời gian 31 năm (vượt tiêu chuẩn tối thiểu 30 năm theo quy định của Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO), đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy thống kê cao. Phương pháp chọn mẫu toàn phần theo thời gian giúp bao quát đầy đủ các chu kỳ khí hậu và chu kỳ El Nino điển hình.

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phần mềm Minitab và Excel để kiểm định phân phối chuẩn, tính toán độ lệch chuẩn và thiết lập hàm tần suất xuất hiện hạn. Lý do lựa chọn các chỉ số SPI, Ped và K là vì chúng cho phép phân tích đa chiều từ góc độ khí tượng thuần túy (mưa) đến cân bằng nhiệt ẩm bề mặt đất và nhu cầu sinh lý của cây trồng. Đồng thời, hệ thống thông tin địa lý (GIS) được tích hợp để số hóa và thành lập bản đồ phân vùng hạn hán vụ đông xuân và vụ hè thu trên phạm vi 6 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Hà Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả tính toán chuỗi chỉ số hạn giai đoạn 1986 - 2016 phản ánh hạn hán tại Hà Nam diễn ra tập trung và khốc liệt nhất vào vụ đông xuân (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Đợt hạn lịch sử do ảnh hưởng El Nino vụ đông xuân 1997 - 1998 đã làm 36.150 ha diện tích cây trồng bị hạn, chiếm tới 50% tổng diện tích canh tác toàn tỉnh. Giai đoạn 2006 - 2007, hạn hán trên diện rộng làm 17.300 ha cây trồng thiếu nước (chiếm 47% diện tích), đặc biệt tại huyện Duy Tiên và Kim Bảng tỷ lệ diện tích bị hạn lên tới 92%.

Thứ hai, hạn thủy văn ghi nhận mức độ hạ thấp kỷ lục của mực nước sông chính. Trong giai đoạn 2005 - 2016, mực nước thấp nhất của sông Hồng đo tại trạm Yên Lệnh có thời điểm chỉ đạt 0,36 m (năm 2008) và 0,46 m (năm 2010), thấp hơn nhiều so với cao trình thiết kế bể hút của các trạm bơm. Trên sông Nhuệ, mực nước tại Điệp Sơn xuống mức 0,42 m đến 0,5 m, tại Nhật Tựu xuống 0,5 m đến 1,0 m (thấp hơn quy trình vận hành từ 0,3 m đến 0,5 m), khiến toàn bộ các công trình lấy nước trọng yếu bị treo chõ bơm.

Thứ ba, hạn nông nghiệp trên cây rau màu vụ đông có xu hướng gia tăng rõ rệt từ năm 2010 trở lại đây. Hai huyện chịu thiệt hại nặng nề nhất là Bình Lục và Thanh Liêm. Đơn cử vào năm 2015, huyện Bình Lục có 263,3 ha rau màu bị hạn và mất trắng 90,4 ha rau vụ đông tập trung tại các xã An Lão, Tiêu Động, La Sơn, Hưng Công.

Thứ tư, phân tích dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và RCP8.5 giai đoạn 2016 - 2035 cho thấy nhiệt độ trung bình mùa khô tại Hà Nam tiếp tục tăng từ 0,5°C đến 1,2°C, làm tăng lượng bốc hơi tiềm năng từ 8% đến 12%. Kết hợp với sự suy giảm lượng mưa vụ xuân, chỉ số khô hạn cân bằng nước K vụ đông xuân tăng cao, đẩy tần suất hạn hán cấp nặng và rất nặng gia tăng thêm khoảng 15% so với thời kỳ cơ sở 1986 - 2005.

Thảo luận kết quả

Diễn biến hạn hán gay gắt tại Hà Nam là kết quả tổng hòa của các yếu tố tự nhiên và áp lực phát triển kinh tế - xã hội. Về mặt tự nhiên, sự suy giảm lượng mưa cục bộ trong các năm El Nino mạnh (năm 2015 lượng mưa cả năm chỉ đạt 1.072,4 mm so với trung bình nhiều năm là khoảng 1.900 mm) là nguyên nhân cốt lõi gây hạn khí tượng. Về mặt nhân sinh, hoạt động khai thác cát trái phép trên sông Hồng làm hạ thấp cao trình đáy sông, kết hợp tình trạng ô nhiễm nước sông Nhuệ và sông Châu Giang khiến nguồn nước mặt không thể đưa vào đồng ruộng.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi sinh kế và công nghiệp hóa tạo ra sự cạnh tranh nguồn nước gay gắt. Toàn tỉnh phát triển 8 khu công nghiệp, 25 cụm công nghiệp cùng sự bùng nổ của ngành chăn nuôi tại huyện Bình Lục (tổng đàn lợn đạt 298.231 con và đàn gia cầm đạt 1.468.430 con vào năm 2015) đã làm gia tăng đột biến nhu cầu tiêu thụ nước sinh hoạt và sản xuất.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua các đồ thị phân tích biến trình nhiệt ẩm, bảng so sánh cấp độ hạn giữa chỉ số SPI, Ped, K với thực tế sản xuất và bản đồ GIS phân vùng hạn vụ đông xuân. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Hồng, khẳng định tính tất yếu của việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu thiệt hại do hạn hán và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi: Tiến hành nạo vét toàn diện hệ thống kênh mương tưới tiêu, hạ thấp cao trình đặt ống hút của các trạm bơm ven sông Hồng và sông Đáy; chủ động lắp đặt bổ sung các trạm bơm dã chiến tại các vùng trũng thấp. Đơn vị thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam phối hợp với các Công ty Khai thác công trình thủy lợi. Mục tiêu: Đảm bảo chủ động cấp nước tưới cho 100% diện tích 40.500 ha lúa hai vụ trong khung thời gian 2018 - 2023.
  • Tận dụng tối đa các đợt xả nước hồ chứa thủy điện: Thiết lập quy chế phối hợp liên ngành nhằm vận hành đồng bộ các cống lấy nước và trạm bơm lấy nước ngược, chủ động trữ nước vào hệ thống kênh dẫn và vùng trũng đệm ngay trong các đợt xả tăng cường từ hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang. Đơn vị thực hiện: Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và các Hợp tác xã nông nghiệp. Mục tiêu: Tích trữ đủ 85% dung tích nước tưới dưỡng đầu vụ trước ngày 15 tháng 2 hàng năm; thực hiện liên tục từ năm 2018.
  • Chuyển dịch cơ cấu cây trồng và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm: Chuyển đổi linh hoạt diện tích đất lúa kém hiệu quả và vùng đất vàn cao thiếu nước (tại huyện Duy Tiên, Kim Bảng) sang trồng rau màu công nghệ cao và cây vụ đông có nhu cầu nước thấp; ứng dụng kỹ thuật tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt tự động cho 3.000 ha vùng chuyên canh rau củ quả. Đơn vị thực hiện: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Nam cùng các hộ nông dân. Mục tiêu: Tiết kiệm từ 25% đến 40% lượng nước tưới, nâng giá trị sản xuất đạt trên 240 triệu đồng/ha; lộ trình triển khai 2018 - 2025.
  • Xây dựng hệ thống giám sát cảnh báo sớm và kiểm soát ô nhiễm nước: Ứng dụng công nghệ GIS và dữ liệu viễn thám để vận hành bản đồ số cảnh báo nguy cơ hạn hán theo thời gian thực; kiểm soát nghiêm ngặt nguồn nước thải công nghiệp từ 8 khu công nghiệp và nước thải chăn nuôi đổ vào sông Nhuệ, sông Đáy. Đơn vị thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ. Mục tiêu: Giảm thiểu 50% rủi ro mất mùa do hạn đột ngột; hoàn thành hệ thống trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở TN&MT tỉnh Hà Nam và các tỉnh lân cận): Sử dụng bản đồ phân vùng hạn hán và số liệu dự báo giai đoạn 2016 - 2035 để xây dựng phương án phòng chống thiên tai, quy hoạch vùng chuyên canh nông nghiệp và ban hành lịch thời vụ đổ ải vụ đông xuân chính xác.
  • Đơn vị quản lý khai thác công trình thủy nông và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp: Khai thác chuỗi dữ liệu mực nước thấp nhất trên sông Hồng (0,36 m) và sông Đáy (1,13 m) để cải tạo bể hút máy bơm, lập kế hoạch lấy nước ngược và vận hành hệ thống kênh mương nội đồng khoa học trong các đợt xả hồ chứa.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên Nước, Quản lý Đất đai: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa chuỗi chỉ số hạn (SPI, Ped, K), mô hình kịch bản biến đổi khí hậu RCP và công nghệ GIS như một nghiên cứu điển hình phục vụ giảng dạy và nghiên cứu học thuật.
  • Doanh nghiệp nông nghiệp và các chủ trang trại sản xuất quy mô lớn: Ứng dụng thông tin phân vùng hạn để chủ động lựa chọn giống cây trồng chịu hạn, đầu tư hạ tầng tưới tự động trên quy mô 3.000 ha đất màu chuyên canh nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng cao giá trị thương phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào đóng vai trò chính gây nên các đợt hạn hán nghiêm trọng tại Hà Nam? Hạn hán tại Hà Nam là hệ quả của sự thiếu hụt lượng mưa vụ đông xuân (chỉ chiếm 15% tổng lượng năm) kết hợp với hiện tượng El Nino làm gia tăng bốc hơi bề mặt. Bên cạnh đó, lòng dẫn sông Hồng bị hạ thấp làm mực nước tại Yên Lệnh giảm xuống 0,36 m, cùng tình trạng ô nhiễm nước sông Nhuệ khiến các trạm bơm không thể hoạt động hết công suất.

Chỉ số hạn nào phản ánh sát thực tế sản xuất nông nghiệp tại Hà Nam nhất? Luận văn chứng minh Chỉ số khô hạn cân bằng nước K và Chỉ số chuẩn hóa giáng thủy SPI có độ tương thích cao nhất với thực tế. Chỉ số K phản ánh chính xác tỷ số giữa lượng bốc thoát hơi tiềm năng và lượng mưa, giúp lượng hóa rõ nét mức độ thiệt hại trong đợt hạn năm 1997 - 1998 làm 36.150 ha lúa bị khô cằn.

Hạn hán đã từng gây ra những tổn thất cụ thể nào đối với tỉnh Hà Nam? Hạn hán trong quá khứ đã làm suy giảm nghiêm trọng diện tích gieo trồng và sản lượng cây lương thực. Cụ thể, đợt hạn 1997 - 1998 làm 50% diện tích cây trồng bị hạn; đợt hạn 2006 - 2007 khiến 92% diện tích canh tác tại Kim Bảng và Duy Tiên thiếu nước; năm 2015 huyện Bình Lục ghi nhận 90,4 ha rau vụ đông bị mất trắng hoàn toàn.

Kịch bản biến đổi khí hậu dự báo hạn hán tại Hà Nam sẽ biến động thế nào đến năm 2035? Theo các kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5 giai đoạn 2016 - 2035, nhiệt độ trung bình mùa khô tại Hà Nam dự tính tăng từ 0,5°C đến 1,2°C, làm cường độ bốc hơi nước tăng từ 8% đến 12%. Do lượng mưa vụ xuân không tăng đáng kể, tần suất xuất hiện các đợt hạn vụ đông xuân cấp nặng sẽ tăng thêm khoảng 15%.

Địa phương cần ưu tiên giải pháp kỹ thuật nào để bảo đảm nguồn nước tưới ổn định? Giải pháp cấp bách hàng đầu là hiện đại hóa hạ tầng trạm bơm ven sông, chủ động tích trữ nước vào hệ thống kênh mương nội đồng ngay trong các đợt xả nước từ hồ thủy điện Hòa Bình, kết hợp chuyển đổi 3.000 ha đất cao thiếu nước sang canh tác rau màu công nghệ cao và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu 31 năm (1986 - 2016), chỉ rõ hạn hán tại Hà Nam tập trung khốc liệt nhất vào vụ đông xuân với các đợt hạn điển hình làm ảnh hưởng từ 14,3% đến 50% diện tích canh tác.
  • Chứng minh tính ưu việt của Chỉ số khô hạn cân bằng nước K và Chỉ số SPI trong việc phản ánh chính xác mối tương quan giữa khí tượng, thủy văn và nhu cầu nước cây trồng tại đồng bằng sông Hồng.
  • Dự báo xu thế hạn hán theo kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 giai đoạn 2016 - 2035 với mức nhiệt độ tăng từ 0,5°C đến 1,2°C, cảnh báo tần suất hạn hán mùa khô tăng thêm khoảng 15%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gồm nâng cấp hạ tầng thủy nông, tận dụng các đợt xả hồ chứa thủy điện, chuyển đổi 3.000 ha cây trồng cạn và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm.
  • Xây dựng thành công bản đồ GIS phân vùng hạn hán, cung cấp công cụ trực quan hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên nước và định hướng phát triển nông nghiệp đạt giá trị 8.701 tỷ đồng.

Giai đoạn 2018 - 2025 là khung thời gian bản lề để tỉnh Hà Nam đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp khoa học trong luận văn vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao sinh kế bền vững cho người nông dân.