CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 1. Các khái niệm cơ bản về biến đổi khí hậu Có rất nhiều định nghĩa về Biến đổi khí hậu (BĐKH) nhưng có thể hiểu BĐKH là những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình đã được duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỷ hoặc dài hợn.
BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008). Một số thuật ngữ được sử dụng trong nghiên cứu Biến đổi khí hậu: Thời tiết là tập hợp của các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển ở một thời điểm, một khoảng thời lượng tại một nơi nhất định như nắng hay mưa, nóng hay lạnh, ẩm thấp hay khô ráo (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Khí hậu là tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một vùng nhất định, đặc trưng bởi các đại lượng thống kê dài hạn của các yếu tố khí tượng tại vùng đó (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Chuẩn khí hậu là giá trị trung bình của các yếu tố khí hậu trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 30 năm, làm căn cứ để đánh giá sự khác biệt khí hậu giữa nơi này với nơi khác, giữa thời kỳ này với thời kỳ khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016).
Chuẩn sai khí hậu là độ lệch của giá trị một yếu tố khí hậu so với chuẩn khí hậu hoặc so với giá trị trung bình của nó trong một giai đoạn; sự khác biệt giữa giá trị của một yếu tố khí hậu ở một nơi và giá trị trung bình của yếu tố đó lấy theo vòng vĩ tuyến đi qua nơi đó (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Dao động khí hậu là những thay đổi của giá trị trung bình hoặc các đặc trưng thống kê khác (Độ lệch chuẩn, tần suất các giá trị cực trị.) các yếu tố khí hậu ở tất cả các quy mô không gian và thời gian lớn hơn quy mô thời tiết. Dao động khí hậu có thể gây ra bời các quá trình tự nhiên nội tại bên trong hệ thống khí hậu, hoặc cũng có thể do các tác động bên ngoài của thiên nhiên và con người (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Xu thế khí hậu là sự biến đổi khí hậu được đặc trưng bằng việc tăng hay giảm đơn điệu và trơn tru của giá trị trung bình trong thời kỳ chuỗi số liệu.
Không chỉ giới 1 hạn ở sự thay đổi tuyến tính theo thời gian, mà đặc trưng bằng chỉ một cực đại và một cực tiểu ở các đầu, cuối chuỗi số liệu (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Yếu tố khí hậu là một trong những tính chất hay điều kiện của khí quyển như nhiệt độ không khí, đặc trưng cho trạng thái vật lý của thời tiết hay khí hậu tại một nơi, vào một khoảng thời gian nhất định (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016). Kịch bản biến đổi khí hậu là sự khác biệt giữa kịch bản khí hậu và khí hậu hiện tại. Do kịch bản biến đổi khí hậu xác định từ kịch bản khí hậu, nó bao hàm các giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).
Hiện tượng cực đoan là sự xuất hiện giá trị của một yếu tố thời tiết hoặc khí hậu cao hơn (hoặc thấp hơn) giá trị ngưỡng, gần các giới hạn trên (hay dưới) của dãy các giá trị quan trắc được của các yếu tố đó (IPCC, 2012). Thiên tai là các thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội do các hiểm họa tự nhiên tương tác với các điều kiện dễ bị tồn thương của xã hội, dẫn đến ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường, đòi hỏi phải ứng phó khẩn cấp để đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi (IPCC, 2012). Thích ứng là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Viện Khoa học KTTV và Môi trường, 2011); là một quá trình, trong đó những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đối phó với tác động của các sự kiện bất lợi của khí hậu và lợi dụng những mặt thuận lợi của chúng (IPCC, 2007); là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động hoặc biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008); là một quá trình mà qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại (Burton, 1998); là một quá trình mà ở đó các cá nhân, cộng đồng hoặc các quốc gia thực hiện các chiến lược và kế hoạch để đối phó với BĐKH và tận dụng được các tác động có lợi của BĐKH (UNDP, 2007). 2 Khả năng thích ứng với BĐKH là khả năng tiềm năng của hệ thống (tự nhiên hoặc con người) để chống lại những thay đổi (IPCC, 2007).
Khả năng thích ứng hiện tại là điều kiện quan trọng để thiết lập và xây dựng chiến lược thích ứng BĐKH hiệu quả (Brooks và Adger, 2005). Khả năng thích ứng còn được xem như là mặt đối lập của TDBTT, là hợp phần trong đánh giá tổn thương (Kaly, 2004; Adger, 2005, IPCC, 2007). Trong đó, BĐKH được nhận định là tác nhân gây tổn thương do các tai biến liên quan như bão, lũ lụt, dâng cao mực nước biển,. Theo đó, khả năng thích ứng với BĐKH trong đánh giá TDBTT được xây dựng theo các tiêu chí khác nhau của hệ thống tự nhiên – xã hội.
Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là sự can thiệp của con người nhằm giảm nguồn phát thải hoặc tăng bể chứa các khí nhà kính (UNFCCC, 2011); là sự can thiệp của con người nhằm giảm ảnh hưởng bất lợi đối với BĐKH; là những thay đổi trong áp dụng kỹ thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính. Mặc dù một số chính sách về xã hội, kinh tế và kỹ thuật có thể giảm sự phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ BĐKH mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa các khí nhà kính (IPCC, 2007). Tình hình biến đổi khí hậu 1. Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới Theo báo cáo AR5, nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu thế tăng lên rõ rệt kể từ năm 1950, nhiều kỷ lục thời tiết và khí hậu cực đoan đã được xác lập trong những thập kỷ vừa qua.
Biểu hiện rõ nhất đó là sự ấm lên của khí quyển và đại dương, lượng băng và tuyết giảm, mực nước biển tăng, nồng độ khí nhà kính tăng (IPCC, 2013). Biến đổi của nhiệt độ có xu thế chung là tăng nhanh hơn ở các vùng vĩ độ cao so với các vùng có vĩ độ thấp; tăng nhanh hơn ở các vùng trong lục địa so với các vùng ven biển và hải đảo; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. Báo cáo AR5 (IPCC, 2013) tiếp tục khẳng định số ngày và đêm lạnh có xu thế giảm ngược lại số ngày và đêm nóng có xu thế tăng lên, đặc biệt là số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên quy mô toàn cầu từ năm 1950 trở lại đây. Cũng theo IPCC, 2013, trong những năm gần đây thì diện tích băng có xu thế giảm mạnh.
Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,89 0C (dao động từ 0,69 – 1,08 0C) trong thời kỳ 1901-2012; nhiệt độ trung bình toàn cầu có chiều hướng tăng nhanh đáng kể từ giữa thế kỷ 20 với mức tăng khoảng 0,12 0C/thập kỷ trong thời kỳ 3 1951-2012; Giáng thủy trung bình toàn cầu kể từ năm 1901 có xu thế tăng ở các lục địa có vĩ độ trung bình thuộc bắc bán cầu. Trong giai đoạn 1901–2010, mức nước biển đã dâng trung bình trên toàn cầu là 0,19 m (0,17-0,21m) với tốc độ trung bình 1,7 mm/năm (1,5-1,9 mm/năm). Tốc độ dâng của nước biển từ giữa thế kỷ 19 đã cao hơn tốc độ dâng trung bình trong 2 nghìn năm trước (IPCC, 2014). Về nguyên nhân, IPCC cho rằng, phát thải khí nhà kính do con người là nguyên nhân chính gây ra của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu.
Phát thải khí nhà kính đã tăng lên kể từ thời kỳ tiền công nghiệp, chủ yếu do tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và hiện nay đang ở mức cao hơn bao giờ hết. Nồng độ trong khí quyển của các loại khí CO2, CH4 và N2O đạt tới mức cao chưa từng có trong ít nhất 800.000 năm qua và đều có mức tăng lớn kể từ năm 1750, tương ứng là 40%, 150% và 20%. Tổng lượng khí nhà kính do con người thải ra trong giai đoạn 2000-2010 là cao nhất trong lịch sử nhân loại và đạt 49 (± 4.5) GtCO2eq /năm trong năm 2010 (IPCC, 2014). Theo kết quả dự tính BĐKH toàn cầu trong thế kỷ 21 (IPCC, 2013) thì nhiệt độ trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 1,1 - 2,6 0C (RCP4.5) so với trung bình thời kỳ 1986-2005.
Cực đoan nhiệt độ có xu thế tăng, theo kịch bản RCP8.5 đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ngày lạnh nhất tăng 5-10 0C, nhiệt độ ngày nóng nhất tăng từ 5-7 0C, số ngày sương giá giảm; Mưa cực trị có xu thế tăng dự tính lượng mưa 1 ngày lớn nhất trong năm (tính trung bình 20 năm) tăng 5,3% ứng với mức tăng 1 0C của nhiệt độ trung bình; theo kịch bản RCP8.5 đến năm 2100 không còn băng ở Bắc Cực. Thời kỳ đầu thế kỷ, 2016-2030 nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,3-0,7 0C, tuy nhiên cuối thể kỷ 2081-2100 nhiệt đột trung bình tăng lên khoảng 2 0C so với giai đoạn 1986-2005 theo kịch bản RCP8.