Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là một trong những thách thức môi trường và kinh tế - xã hội lớn nhất trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, chỉ riêng trong năm 2015, các hình thái thiên tai cực đoan đã gây thiệt hại ước tính khoảng 8.114 tỷ đồng trên toàn quốc, làm 154 người chết (trong đó 94 người do lũ quét, sạt lở đất; 60 người do lốc, sét), 127 người bị thương, làm sập đổ hoặc hư hỏng hơn 36.400 ngôi nhà và gây thiệt hại trên 445.000 ha diện tích lúa cùng hoa màu.

Xã Điềm Mặc là một xã miền núi thuộc vùng trung du phía Tây Nam huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (địa bàn thuộc diện Chương trình 135 của Chính phủ), có tổng diện tích tự nhiên 1.653,84 ha. Với đặc thù địa hình đồi núi, đất đai và khí hậu đặc trưng, cây chè được xác định là cây trồng công nghiệp lâu năm chủ lực, đóng vai trò là nguồn sinh kế chính và là cây thoát nghèo của đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương (như Tày, Nùng, Sán Trí, Cao Lan, Dao). Tính đến năm 2015, toàn xã có 253 ha chè. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diễn biến phức tạp của BĐKH như số lượng và cường độ các đợt bão tăng, nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè, rét đậm rét hại gia tăng vào mùa đông cùng các đợt hạn hán cục bộ đã ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân nông thôn về BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc ứng phó mang tính bị động.

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Đánh giá nhận thức của nông hộ về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc – huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên" được tác giả Hà Thị Yến thực hiện nhằm làm rõ thực trạng sản xuất và mức độ hiểu biết của nông hộ, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc và nhận thức của người dân trong xã về BĐKH, mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất chè; đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân góp phần duy trì và phát triển sản xuất chè trong điều kiện biến đổi khí hậu.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc.
    2. Đánh giá nhận thức của người dân trồng chè về BĐKH và ảnh hưởng của nó tới sản xuất chè.
    3. Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất chè tại xã Điềm Mặc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ trực tiếp tham gia sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và khảo sát thực địa từ ngày 03/01/2016 đến ngày 16/04/2016 (số liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2011–2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về khoa học khí hậu, lý thuyết nhận thức trong triết học và các yêu cầu kỹ thuật - sinh thái nông nghiệp của cây chè:

  • Khung lý thuyết về BĐKH: Tiếp cận định nghĩa BĐKH theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường; tổng hợp các biểu hiện toàn cầu (nhiệt độ tăng 0,74°C trong giai đoạn 1906–2005, mực nước biển dâng 20 cm trong 100 năm qua) và xu thế tại Việt Nam trong 50 năm (1958–2007: nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng 0,56°C, mùa đông tăng 1,2°C; mực nước biển dâng khoảng 20 cm).
  • Lý luận về nhận thức: Vận dụng quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng về các giai đoạn nhận thức (nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính, nhận thức trở về thực tiễn) và phân loại nhận thức (nhận thức kinh nghiệm, nhận thức lý luận, nhận thức thông thường, nhận thức khoa học) để làm cơ sở phân tích mức độ hiểu biết của nông dân.
  • Sinh thái học và kỹ thuật cây chè: Khung yêu cầu ngoại cảnh của cây chè (nhiệt độ giới hạn sinh trưởng 10–40°C; lượng mưa trung bình 1.500–2.000 mm/năm; đất có độ pH từ 4,5–5,5, hàm lượng mùn 2–4%, tầng dày 0,6–1 m, độ dốc 10–20°) và các biện pháp kỹ thuật canh tác (bón phân N-P-K cân đối, đốn chè, mật độ gieo trồng 18.000–20.000 cây/ha, cơ cấu giống chè Trung du và giống chè cành mới như LDP1, TRI777, Kim Tuyên).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất từ UBND xã Điềm Mặc, niên giám thống kê huyện Định Hóa và các tài liệu khoa học chuyên ngành.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
    • Địa bàn chọn mẫu: Chọn 3 xóm đại diện có diện tích chè lớn nhất xã gồm Bản Tiến, Đồng Vinh 4 và Song Thái 3.
    • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo 4 nhóm hộ (tỷ lệ chọn 20% tổng số hộ của từng nhóm trong 3 xóm), tổng cộng 60 hộ điều tra. Cụ thể: 9 hộ khá (trên tổng số 45 hộ khá), 21 hộ trung bình (trên tổng 105 hộ), 15 hộ cận nghèo (trên tổng 75 hộ) và 15 hộ nghèo (trên tổng 75 hộ).
    • Công cụ thu thập: Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng bảng câu hỏi soạn sẵn.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu: Dữ liệu được mã hóa, nhập liệu và xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học thông thường; sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính số bình quân, tỷ lệ phần trăm và so sánh đối chiếu giữa các nhóm đối tượng và các mốc thời gian.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh BĐKH gia tăng ảnh hưởng đến khu vực nông thôn miền núi; xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể; nêu rõ ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn đối với công tác phát triển nông thôn và ý nghĩa nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan cơ sở lý luận về BĐKH (khái niệm, biểu hiện, nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo, hậu quả sinh thái - kinh tế); trình bày các số liệu khí tượng thủy văn của Việt Nam qua 50 năm (1958–2007) về nhiệt độ, số giờ nắng, lượng mưa; hệ thống hóa lý thuyết về nhận thức con người; phân tích đặc điểm sinh học cây chè, tác động của các yếu tố tự nhiên (nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, đất đai) và kỹ thuật canh tác (nước tưới, phân bón, mật độ, đốn chè) đến năng suất; tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước về nhận thức BĐKH tại Đồng bằng sông Hồng, Phú Thọ, Cao Bằng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu (nông hộ trồng chè xã Điềm Mặc); phạm vi không gian (xã Điềm Mặc) và thời gian (03/01/2016 – 16/04/2016); quy trình chọn mẫu phân tầng 60 hộ tại 3 xóm Bản Tiến, Đồng Vinh 4, Song Thái 3; phương pháp điều tra bảng hỏi trực tiếp, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

  • Điều kiện tự nhiên: Xã Điềm Mặc có địa hình đồi núi chiếm 53,6% diện tích, độ dốc lớn; khí hậu có 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 23°C (tháng 6–7 nóng nhất đạt 28°C, tháng 1–2 lạnh nhất đạt 14°C), lượng mưa trung bình năm 1.262 mm (mưa tập trung tháng 6–9 chiếm 90%), độ ẩm bình quân 80–85%, tổng số giờ nắng 1.600–1.800 giờ/năm. Đất đai chủ yếu là đất thung lũng dốc tụ, đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ và đất đỏ vàng.
  • Hiện trạng đất đai và kinh tế - xã hội: Tổng diện tích tự nhiên năm 2015 là 1.653,84 ha (tăng 7,02 ha so với năm 2013). Đất nông nghiệp chiếm 1.468,10 ha (88,76%), đất lâm nghiệp đạt 633,17 ha. Toàn xã có 1.294 hộ với 4.606 nhân khẩu thuộc 10 dân tộc; tỷ lệ người trong độ tuổi lao động là 48,63% (2.240 người), trong đó 95% lao động tham gia sản xuất nông nghiệp. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 15 triệu đồng/người/năm (tăng 8 triệu đồng so với năm 2011). Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp chiếm 85%, Tiểu công nghiệp - xây dựng 10%, Dịch vụ 5%.
STT Loại đất Năm 2013 (ha) Năm 2015 (ha) Tăng/Giảm (± ha)
Tổng diện tích tự nhiên 1.646,02 1.653,84 +7,02
1 Đất nông nghiệp 1.468,10 1.467,90 -0,20
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 872,10 801,36 -70,74
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 277,00 280,14 +3,14
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 595,10 521,22 -73,88
1.2 Đất lâm nghiệp 562,75 633,17 +70,42
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 33,25 33,37 +0,12
2 Đất phi nông nghiệp 120,64 125,12 +4,48
3 Đất chưa sử dụng 58,63 60,82 +2,19

4.2. Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Điềm Mặc

  • Quy mô và năng suất toàn xã: Năm 2015, tổng diện tích chè của xã là 253 ha (trong đó chè kinh doanh là 213 ha, chè thâm canh 160 ha, diện tích trồng mới và trồng thay thế đạt 20 ha). Năng suất bình quân đạt 100 tạ/ha, sản lượng đạt 2.130 tấn búp tươi.
  • Chuyển dịch cơ cấu giống: Diện tích giống chè Trung du (trồng hạt) giảm liên tục từ 215 ha (2013) xuống 177 ha (2014) và còn 169 ha (2015) do nương chè già cỗi (>50 năm). Ngược lại, diện tích chè cành mới (LDP1, TRI777, Kim Tuyên) tăng từ 37 ha (2013) lên 65 ha (2014) và 83 ha (2015).
  • Biến động sản xuất kinh doanh chè giai đoạn 2013–2015:
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 So sánh 2014/2013 (%) So sánh 2015/2014 (%) Bình quân 2013–2015 (%)
Diện tích ha 218 215 213 98,62 99,07 98,84
Năng suất tạ/ha 110 115 100 104,55 86,96 95,35
Sản lượng tấn 2.398,0 2.472,5 2.130,0 103,11 86,15 94,27
  • Khoa học kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ: Xã chưa có nhà máy chế biến công nghiệp; chế biến chủ yếu phân tán theo quy mô hộ gia đình với các sản phẩm chè xanh, chè đen, chè sao, chè hong. Giá chè sao chất lượng cao dao động 150.000–200.000 đồng/kg khô. Việc cơ giới hóa mang lại hiệu quả cao: sử dụng máy hái chè (2 nhân công) thu hoạch 1 mẫu (3.600 m2) chỉ mất 16–20 giờ (tiêu hao 0,6–0,7 lít xăng/4 giờ), chi phí thuê dịch vụ giảm từ 3 triệu đồng (10 công hái thủ công trong 5 ngày) xuống còn 1,5–1,7 triệu đồng/mẫu; máy đốn chè cơ giới đạt công suất >1 mẫu/ngày (so với thủ công chỉ hơn 0,5 sào/ngày).

4.3. Năng lực và thực trạng sản xuất của 60 hộ điều tra

  • Đặc điểm nhân lực và đất đai: Tuổi trung bình của chủ hộ khảo sát là 47,4 tuổi. Nhân khẩu bình quân đạt 4,03 người/hộ; lao động chính bình quân đạt 2,25 người/hộ (nam 1,23 người, nữ 1,14 người). Bình quân diện tích đất sản xuất của hộ là 16,25 sào/hộ, trong đó đất trồng chè chiếm tỷ trọng lớn nhất với 10,27 sào/hộ (63,20%), đất lúa 3,41 sào/hộ (20,99%), đất lâm nghiệp 1,19 sào/hộ (7,32%), đất màu 0,36 sào/hộ.
  • Cơ cấu giống chè và năng suất nhóm hộ: Chè Trung du chiếm 6,45 sào/hộ (62,81% diện tích chè của hộ), chè cành mới đạt 2,18 sào/hộ (19,84%), chè trồng mới/trồng lại đạt 1,65 sào/hộ (16,07%). Năng suất chè bình quân của nhóm hộ đạt 18,37 kg/sào.
  • Trang bị phương tiện sản xuất của nhóm hộ:
Nhóm hộ Số hộ điều tra Hộ có máy sao chè Tỷ lệ (%) Hộ có máy vò mini Tỷ lệ (%) Hộ có máy hái chè Tỷ lệ (%)
Hộ khá 9 9 100,0 9 100,0 2 22,2
Hộ trung bình 21 21 100,0 20 95,2 0 0,0
Hộ cận nghèo 15 15 100,0 11 73,3 0 0,0
Hộ nghèo 15 14 93,3 6 40,0 0 0,0
Tổng cộng / BQ 60 59 98,3 46 76,7 2 3,3

4.4. Nhận thức của nông dân về BĐKH và biện pháp ứng phó

Phần lớn nông hộ nhận thức về BĐKH ở mức độ kinh nghiệm thông qua quan sát các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng hạn kéo dài gây cháy búp/chết cây, các đợt rét đậm rét hại làm chậm chu kỳ bật búp, lượng mưa phân bố thất thường làm tăng sâu bệnh (nhện đỏ, bệnh phồng lá). Kênh tiếp cận thông tin chủ yếu là truyền thanh, truyền hình và trao đổi kinh nghiệm nội bộ. Các biện pháp thích ứng tại chỗ gồm chuyển đổi sang giống chè cành, che chắn chống rét, tăng cường làm cỏ bón phân hữu cơ và chủ động tưới tiêu quy mô nhỏ.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định được thực trạng suy giảm năng suất chè toàn xã trong năm 2015 (giảm 16,67% so với năm 2014, từ 115 tạ/ha xuống 100 tạ/ha; sản lượng giảm từ 2.472,5 tấn xuống 2.130 tấn) do ảnh hưởng cộng hưởng của các hình thái thời tiết cực đoan và sâu bệnh hại bùng phát.
  • Chỉ ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu giống chè tại Điềm Mặc: diện tích chè Trung du giảm từ 215 ha (2013) xuống 169 ha (2015), trong khi chè cành mới tăng nhanh từ 37 ha lên 83 ha.
  • Phản ánh chính xác thực trạng nguồn lực của 60 hộ khảo sát: 98,3% hộ có máy sao chè, 76,7% hộ có máy vò mini, nhưng chỉ 3,3% hộ có máy hái chè; năng suất thu hoạch bình quân đạt 18,37 kg/sào; đất trồng chè chiếm vị trí tuyệt đối trong cơ cấu đất sản xuất của hộ (10,27 sào/hộ, chiếm 63,20%).
  • Đánh giá được nhận thức của người dân: nhận thức còn mang nặng tính kinh nghiệm, cảm tính, chưa tiếp cận đầy đủ các kiến thức khoa học bài bản về BĐKH và các kỹ thuật thâm canh thích ứng dài hạn.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về chuyển đổi giống và kỹ thuật canh tác: Đẩy mạnh thay thế các nương chè Trung du già cỗi bằng các giống chè cành lai có năng suất cao và khả năng chống chịu tốt (LDP1, TRI777, Kim Tuyên); hướng dẫn bón phân cân đối N-P-K, hạn chế bón thừa đạm làm giảm chất tanin hòa tan; áp dụng kỹ thuật đốn chè và mật độ trồng hợp lý (18.000–20.000 cây/ha) để giữ ẩm và chống xói mòn đất đồi.
  • Về cơ sở hạ tầng và cơ giới hóa: Đầu tư nâng cấp 7 đập chứa nước hiện có, mở rộng hệ thống kênh mương tưới tiêu và trạm bơm; hỗ trợ người dân tiếp cận máy móc cơ giới (máy đốn, máy hái, máy phun thuốc áp lực cao) để giảm chi phí nhân công và giảm thời gian giữa các lứa hái từ 5–7 ngày.
  • Về nâng cao nhận thức và khuyến nông: Tăng cường các lớp tập huấn khuyến nông, dạy nghề chế biến chè xanh, chè đen và phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM); đẩy mạnh công tác dự báo thời tiết và tuyên truyền BĐKH qua hệ thống loa truyền thanh xóm.
  • Về chế biến, tiêu thụ và chính sách: Hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo, cận nghèo; quy hoạch cơ sở chế biến tập trung, cải tiến bao bì, đóng gói để từng bước xây dựng thương hiệu chè Điềm Mặc trên thị trường.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp nguồn dữ liệu điều tra vi mô cập nhật (năm 2016) về thực trạng kinh tế nông hộ và nhận thức khí hậu tại xã Điềm Mặc - địa bàn miền núi khó khăn thuộc huyện Định Hóa; làm sáng tỏ mối liên hệ giữa điều kiện thời tiết cực đoan với năng suất chè ở quy mô cấp xã.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô khảo sát giới hạn ở 60 hộ gia đình tại 3 xóm trong phạm vi một xã miền núi (Điềm Mặc), chưa thực hiện khảo sát đối chứng trên diện rộng toàn huyện Định Hóa.
    • Thời gian thực hiện thực địa ngắn (từ tháng 1 đến tháng 4/2016).
    • Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và bình quân số học, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc hồi quy tương quan đa biến để lượng hóa mức độ tác động của từng yếu tố nhận thức đến quyết định đầu tư thích ứng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận trong vùng chè Định Hóa; ứng dụng các mô hình hồi quy xác suất (Logit/Probit) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi thích ứng của nông hộ; đánh giá chi tiết hiệu quả tài chính của từng mô hình giống chè mới trong điều kiện thời tiết cực đoan kéo dài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên và Môi trường.
    • Cán bộ quản lý nông nghiệp, cán bộ khuyến nông cấp huyện, xã tại các khu vực trung du miền núi phía Bắc.
    • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề sinh kế nông hộ và tính dễ bị tổn thương của nông nghiệp trước BĐKH.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Khung bảng hỏi và quy trình phân tầng mẫu điều tra nông hộ theo điều kiện kinh tế (khá, trung bình, cận nghèo, nghèo).
    • Hệ thống dữ liệu thực tế về định mức tiêu hao, công lao động và chi phí khi áp dụng máy hái chè, máy đốn chè cơ giới so với phương pháp thủ công truyền thống.
    • Bức tranh thực trạng chuyển dịch cơ cấu giống chè từ giống hạt Trung du sang chè cành tại vùng trung du miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu giống chè tại xã Điềm Mặc đã dịch chuyển như thế nào trong giai đoạn 2013–2015?
Trong giai đoạn 2013–2015, diện tích giống chè Trung du (trồng hạt) giảm từ 215 ha (năm 2013) xuống 177 ha (năm 2014) và còn 169 ha (năm 2015) do nương chè già cỗi, năng suất thấp. Ngược lại, diện tích chè cành mới (LDP1, TRI777, Kim Tuyên) tăng từ 37 ha (2013) lên 65 ha (2014) và đạt 83 ha (2015).

2. Việc đưa cơ giới hóa (máy hái chè, máy đốn chè) vào sản xuất mang lại hiệu quả cụ thể ra sao?
Đối với diện tích 1 mẫu chè giống mới (3.600 m2), hái thủ công cần 10 người làm trong 5 ngày với chi phí thuê trên 3 triệu đồng. Khi sử dụng máy hái chè với 2 nhân công, thời gian thu hoạch rút ngắn xuống còn 16–20 giờ (khoảng 2 ngày), tiêu hao 0,6–0,7 lít xăng/4 giờ chạy máy, chi phí thuê dịch vụ giảm xuống còn 1,5–1,7 triệu đồng/mẫu. Máy đốn cơ giới có thể đốn hơn 1 mẫu/ngày (so với thủ công chỉ được hơn nửa sào/ngày/người).

3. Vì sao năng suất chè toàn xã năm 2015 lại giảm so với năm 2014?
Năm 2014 năng suất chè toàn xã đạt 115 tạ/ha, nhưng sang năm 2015 giảm xuống còn 100 tạ/ha (giảm 16,67%). Nguyên nhân chính là do diễn biến thời tiết bất thường, sự xuất hiện của các đợt nắng gắt và rét đậm làm bùng phát sâu bệnh hại (đặc biệt là nhện đỏ và bệnh phồng lá), kết hợp với giá bán chè trên thị trường giảm khiến người dân hạn chế đầu tư phân bón, chăm sóc.

4. Khảo sát 60 nông hộ cho thấy thực trạng sở hữu máy móc chế biến và thu hoạch chè như thế nào?
Trong 60 hộ điều tra, tỷ lệ sở hữu máy sao chè đạt 98,3% (100% ở hộ khá, trung bình, cận nghèo; 93,3% ở hộ nghèo). Tỷ lệ sở hữu máy vò mini đạt 76,7% (100% hộ khá, 95,2% hộ trung bình, nhưng hộ nghèo chỉ đạt 40%). Riêng máy hái chè chỉ có 2 hộ khá sở hữu (chiếm 3,3% tổng số hộ khảo sát), các nhóm hộ còn lại chưa có máy hái chè.

5. Nguồn lực đất đai bình quân của nhóm 60 hộ điều tra được phân bổ như thế nào?
Tổng diện tích đất sản xuất bình quân của hộ là 16,25 sào/hộ. Trong đó, đất trồng chè chiếm tỷ trọng lớn nhất với 10,27 sào/hộ (chiếm 63,20%), tiếp đến là đất trồng lúa với 3,41 sào/hộ (20,99%), đất lâm nghiệp đạt 1,19 sào/hộ (7,32%) và đất trồng hoa màu là 0,36 sào/hộ.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hà Thị Yến đã phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng phát triển cây chè và mức độ nhận thức về BĐKH của nông hộ tại xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu khảo sát 60 hộ dân cho thấy sinh kế địa phương phụ thuộc lớn vào cây chè, song năng suất và thu nhập đang chịu tác động tiêu cực rõ rệt từ các hiện tượng thời tiết cực đoan, nương chè già cỗi và quy trình chế biến thủ công nhỏ lẻ. Nghiên cứu đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ chuyển đổi cơ cấu giống chè cành, hoàn thiện thủy lợi, ứng dụng cơ giới hóa đến đào tạo khuyến nông nhằm giúp nông dân vùng cao chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị sản xuất chè bền vững.