Nghiên cứu tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp tại hạ lưu sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở hạ lưu sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên. Phân tích và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Địa lý tự nhiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án tốt nghiệp

2023

98
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LŨ LỤT ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thuộc hạ lưu lưu vực sông Kỳ Lộ

1.2. Lý luận chung về nghiên cứu lũ lụt và tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp

1.2.1. Quan điểm về lũ lụt và một số đặc điểm của lũ lụt

1.2.2. Một số khái niệm liên quan khác

1.2.3. Nông nghiệp và ảnh hưởng của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp

1.3. Tình hình lũ lụt trên sông Kỳ Lộ

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN TUY AN, HẠ LƯU SÔNG KỲ LỘ

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1. Dân số, lao động

2.2.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

2.3. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và biến động sử dụng đất nông nghiệp

2.3.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

2.3.2. Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp

3. TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ LỤT ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TUY AN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH

3.1. Tình hình lũ lụt ở huyện Tuy An và sông Kỳ Lộ

3.2. Phân tích các nhân tố tác động đến lũ lụt ở sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên

3.3. Tình hình lũ lụt ở hạ lưu sông Kỳ Lộ, huyện Tuy An

3.4. Ảnh hưởng của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở hạ lưu sông Kỳ Lộ

3.5. Tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở các xã vùng đồng bằng ven biển thuộc hạ lưu sông Kỳ Lộ

3.6. Tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở xã khác trong huyện Tuy An

3.7. Một số giải pháp phòng chống, hạn chế thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp do tác động của lũ lụt ở hạ lưu sông Kỳ Lộ

3.7.1. Dự báo diện tích đất nông nghiệp bị ngập do lũ theo kịch bản BĐKH

3.7.2. Giải pháp cho phòng tránh và giảm thiểu thiệt hại do lũ ở hạ lưu sông Kỳ Lộ

3.7.3. Một số mô hình sản xuất phù hợp, ứng phó với lũ lụt

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2. DANH MỤC CÁC BẢNG

3. DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tình hình lũ lụt ở hạ lưu sông Kỳ Lộ

Lũ lụt ở hạ lưu sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên, đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong những năm gần đây. Theo số liệu thống kê, từ năm 2018 đến 2022, tần suất và cường độ lũ lụt tăng cao, gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp. Mỗi năm, huyện Tuy An phải đối mặt với nhiều trận lũ lụt, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và các hoạt động kinh tế. Lũ lụt không chỉ làm ngập úng đất nông nghiệp mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, hạn chế khả năng vận chuyển hàng hóa và làm suy giảm chất lượng đất canh tác. "Lũ lụt là một trong những thiên tai phổ biến nhất ở khu vực này, ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế nông thôn và an ninh lương thực," theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên.

1.1. Nguyên nhân và yếu tố tác động đến lũ lụt

Nguyên nhân chính dẫn đến lũ lụt ở hạ lưu sông Kỳ Lộ bao gồm biến đổi khí hậu, sự thay đổi trong điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu làm gia tăng cường độ và tần suất mưa, dẫn đến việc nước từ thượng nguồn đổ về nhanh chóng. Ngoài ra, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không bền vững cũng làm giảm khả năng hấp thụ nước của đất, làm tăng nguy cơ ngập lụt. "Cần có những giải pháp hiệu quả để quản lý nước và bảo vệ môi trường, nhằm giảm thiểu tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp," một chuyên gia về môi trường cho biết.

II. Tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp

Tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở hạ lưu sông Kỳ Lộ rất nghiêm trọng. Diện tích đất nông nghiệp bị ngập lụt hàng năm có thể lên tới hàng trăm hecta, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cây trồng. Các loại cây như lúa, ngô và rau màu thường chịu thiệt hại nặng nề trong mùa lũ. "Thiệt hại do lũ lụt không chỉ làm giảm sản lượng nông sản mà còn ảnh hưởng đến thu nhập và sinh kế của người nông dân," theo thống kê từ Phòng Nông nghiệp huyện Tuy An. Hơn nữa, lũ lụt cũng làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh cho cây trồng và gia súc, dẫn đến những thiệt hại lâu dài cho kinh tế nông thôn.

2.1. Ảnh hưởng đến thu nhập và sinh kế

Lũ lụt không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thu nhập và sinh kế của người dân. Nhiều hộ gia đình phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp để sinh sống, do đó, khi lũ lụt xảy ra, họ phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn và khó khăn. "Việc mất mùa do lũ lụt khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh nghèo đói, ảnh hưởng đến giáo dục và sức khỏe của các thành viên trong gia đình," một nghiên cứu cho thấy. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp ứng phó và hỗ trợ kịp thời cho người dân trong vùng bị ảnh hưởng.

III. Giải pháp phòng chống lũ lụt

Để giảm thiểu tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp, cần thiết phải triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Các giải pháp bao gồm cải thiện hệ thống thoát nước, trồng cây chắn gió và xây dựng các công trình bảo vệ bờ sông. "Việc áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu là rất quan trọng," theo các chuyên gia. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chống thiên tai cũng cần được chú trọng, nhằm giúp người dân chủ động ứng phó với lũ lụt.

3.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức cộng đồng về lũ lụt và các biện pháp phòng chống là một trong những giải pháp quan trọng. Các chương trình giáo dục và tập huấn cần được tổ chức thường xuyên để trang bị cho người dân kiến thức và kỹ năng ứng phó với lũ lụt. "Chỉ khi người dân hiểu rõ về nguy cơ và cách phòng tránh, họ mới có thể giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt," theo nhận định của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực quản lý thiên tai.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp. Chương 2: Đặc điểm tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Tuy An, hạ lưu sông Kỳ Lộ. Chương 3: Tình hình và ảnh hưởng của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp ở huyện Tuy An và một số giải pháp phòng tránh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LŨ LỤT ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1.

Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1. Trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu về thiên tai và tác động của lũ lụt đến đời sống và sản xuất của con người được bắt đầu từ rất sớm, do có ý nghĩa quan trọng trong sự sống và là một trong những yếu tố đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và sự tồn tại của nhân loại. Cho đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều đã có sự nghiên cứu về BĐKH, thiên tai và những tác động của nó đến đời sống của con người, đặc biệt là những thiên tai mang tính chất toàn cầu như hai nhóm thiên tai: Thiên tai khí tượng thủy văn và địa vật lý. Trong đó, các nghiên cứu thiên tai khí tượng thủy văn (hạn hán, lũ lụt, bão, lốc xoáy nhiệt đới và cháy rừng) tác động đến phát triển nông, lâm nghiệp được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm; đặc biệt chú trọng đến nghiên cứu tác động của bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Những năm 1960, thế giới đã bắt đầu quan tâm hơn tới những tác động của tai biến thiên nhiên mang tính chất toàn cầu. Tuy nhiên, mãi tới những năm 1970 với xuất hiện những nghiên cứu về tai biến ngập lụt ở khu vực các đồng bằng ở Đông và Đông Nam Á của tác giả Oya (1973 và 1977) và của H. Các công trình này chủ yếu tập trung vào đo vẽ thành lập bản đồ địa mạo nhằm phân loại các khu vực có nguy cơ ngập lụt khác nhau ở các đồng bằng châu thổ trên các con sông Kiso, sông Mê Kông (Việt Nam), sông Nile (Ai Cập), đồng bằng trung tâm Thái Lan, thành phố Padang và lân cận miền tây Sumatra (Indonexia). Phương pháp chủ yếu của nghiên cứu là đo vẽ, phân loại và thành lập bản đồ địa mạo chi tiết, từ đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp trên các vùng đồng bằng sông.

Trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với sự trợ giúp của công nghệ GIS, các phần mềm tính toán thủy văn cũng được bổ sung, nâng cấp mạnh mẽ và mang tính tổng hợp đã làm cho các hướng nghiên cứu về thiên tai cũng như tác động của lũ lụt kết hợp với dự báo xu thế, tần suất phát triển rất mạnh. Tiêu biểu 9 của hướng nghiên cứu này là: xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo ngập lụt trên cơ sở sử dụng mô hình thuỷ văn, thuỷ lực MIKE11 kết hợp với sử dụng tư liệu viễn thám GMS, NOAA-12 và NOAA-14 như ở Bangladest; sử dụng tư liệu viễn thám FY-II, OLR, GPCP, ERS-II, SSM/I tại Trung Quốc; Thái Lan đã sử dụng mô hình thuỷ lực HEC- RAS và khảo sát thực địa để xây dựng các mặt cắt sông ở sông Mae Chaem dựa vào các trạm đo D-GPS phục vụ cho công tác cảnh báo và dự báo lũ; các nước châu Phi đã sử dụng mô hình thuỷ văn FEWS NET kết hợp với hệ thống thông tin địa lý GIS, từ đó xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo ngập lụt với sự trợ giúp của tổ chức USGS/EROS. Những công trình này mang lại hiệu quả cao hơn, do có thể định lượng hóa hoặc mô hình hóa các diễn biến của thiên tai, từ đó đánh giá được mức độ ảnh hưởng cũng như xu thế ảnh hưởng của nó đến các hoạt động phát triển KT - XH, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, còn có một số hướng nghiên cứu lũ lụt bằng phương pháp đánh giá tổn thương của: Watts and Bohle (1993) đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối nguy hiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thương xã hội tới khả năng phục hồi, chống chịu của cộng đồng trong đó có người nông dân.

Ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ thiên tai, đặc biệt mưa bão và lũ lụt. Dưới tác động của BĐKH, lũ lụt trở nên khắc nghiệt hơn, xảy ra thường xuyên hơn, mang tính cực đoan nhiều hơn, gây thiệt hại lớn hơn về người và tài sản. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2020, ước tính lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 12 triệu người tại khu vực ven biển Việt Nam. Thiệt hại về kinh tế ước tính lên đến 852 triệu USD - tương đương 0,5% GDP và ảnh hưởng việc làm của 316.

Lũ lụt là hiện tượng diễn ra phổ biến khắp các vùng miền, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Mêkông và đồng bằng sông Hồng. Lịch sử Việt Nam đã cho biết trong vòng 10 thế kỉ (từ thế kỉ X – XIX), Việt Nam có 188 cơn lũ lớn làm vỡ đê sông Hồng. Riêng thế kỉ XIX, đã có 26 năm đê bị vỡ gây lũ lụt, điển hình là các năm 1814, 1824, 1835, 1872, 1893. Trận lụt năm 1893, mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội lên đến 13m.

Sang thế kỷ đã có 20 lần vỡ đê ở hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình. Trận lũ tháng 8/1945 đã làm vỡ 52 quãng đê với tổng chiều dài 10 4.180m, làm khoảng 2 triệu người chết lụt và chết đói, 312.100ha hoa màu bị ngập. Trận lũ tháng 8/1971 là trận lũ lịch sử trên sông Hồng trong vòng 100 năm qua, hơn 400 tuyến đê bị vỡ làm ngập 250.000ha, ảnh hưởng đến cuộc sống của gần 3 triệu người. Là một quốc gia có truyền thống phát triển nông nghiệp lâu đời, lại chịu ảnh hưởng rất lớn từ BĐKH và thiên tai, vì thế nước ta rất chú trọng triển khai thực hiện các nghiên cứu về tác động của thiên tai đến hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm thiểu rủi ro của thiên tai đến sản xuất.

Có thể nói, nông nghiệp là một lĩnh vực phụ thuộc rất nhiều vào các ĐKTN, do vậy nếu thời tiết cực đoan như nắng nóng, hạn hán, lũ lụt,. xảy ra sẽ gây khó khăn cho ngành sản xuất này. Miền Trung nước ta là nơi thường xuyên hứng chịu nhiều trận bão, lũ, lụt so với cả nước vì nơi đây lưu vực hẹp, độ dốc lớn nên nước tập trung rất nhanh gây thiệt hại về người và của thường rất lớn. Chỉ trong tháng 10/2009, miền Trung đã phải gánh hai cơn bão cực lớn là bão số 9 và số 11, làm chết và mất tích 298 người, thiệt hại về vật chất ước tính 1 tỷ USD.

Vì vậy, dưới sự chỉ đạo, quản lý của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, hàng loạt các dự án, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ tập trung vào nghiên cứu về công nghệ dự báo diện và mức độ ngập lụt các lưu vực sông vừa và nhỏ như sông Nhật Lệ (Quảng Bình), sông Hương (Thừa Thiên - Huế), sông Thu Bồn (Quảng Nam), sông Ba (Phú Yên). Đáng chú ý là công trình “Nghiên cứu và cảnh báo ngập lụt phục vụ phòng tránh thiên tai ở các lưu vực sông miền Trung” do Viện Khí tượng - Thủy văn thực hiện, “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tổng thể dự báo phòng tránh ngập lụt miền Trung” do Viện Địa lý - Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam thực hiện [4], [6], [9]. Các nghiên cứu về lũ lụt, ngập lụt phục vụ cho công tác phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại cho đời sống của người dân và cho sản xuất nông nghiệp bắt đầu được chú trọng từ những năm cuối của thế kỷ XX cho thấy các biểu hiện cực đoan của BĐKH đều ảnh hưởng đến diện tích canh tác, sự sinh trưởng và năng suất mùa màng cây trồng. Theo tác giả Đinh Vũ Thanh, nước biển dâng sẽ khiến cho diện tích canh tác nông nghiệp giảm.

Cụ thể, nếu nước biển dâng lên 1m có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và 20% dân số Việt Nam, làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng và 1,5 - 2 triệu ha tại đồng bằng sông Cửu Long và hàng trăm 11 ngàn ha ven biển miền Trung. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số khoảng hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân [10]. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu, ứng dụng các phần mềm, mô hình tính toán như HEC, LTANK, KRSAL, ANN, kết hợp với công cụ hệ thống thông tin địa lý (GIS) cũng được nhiều nhà khoa học tiến hành nhằm nâng cao tính chính xác cho công tác cảnh báo nhờ có các tính toán bằng định lượng, như công trình nghiên cứu Trịnh Việt (2010) về “Đánh giá rủi ro do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị”; Nghiên cứu của Đặng Mai Nguyễn (2010) “Đánh giá các thông số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng, Việt Nam”,. Từ những nghiên cứu theo lĩnh vực như trên, lũ lụt đã được đề cập và nghiên cứu trong cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường.

Đồng thời, các nghiên cứu cũng bắt đầu hướng đến đánh giá trọng số ảnh hưởng tới các yếu tố dễ bị tổn thương (mật độ dân số, nhận thức cộng đồng và các công trình công cộng). Nghiên cứu của Sebastian Scheuer (2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu của cộng đồng [6]. Huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thuộc hạ lưu lưu vực sông Kỳ Lộ Trên địa bàn tỉnh Phú Yên nói chung và huyện Tuy An nói riêng, trong những năm gần đây hiện tượng lũ lụt đã xảy ra với qui mô lớn ở các lưu vực sông như lưu vực sông Ba, sông Kỳ Lộ. Khi nói đến các trận lũ lịch sử năm 1993, 2009, 2013 và 26-30/11/2021 đã gây thiệt hại và tàn phá nghiêm trọng cả về người và của đồng thời để lại hậu quả hết sức nặng nề.

Sự biến đổi khí hậu và tác động của con người đã làm cho các yếu tố tự nhiên biến đổi, làm thay đổi chế độ thuỷ văn của các lưu vực sông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của lũ lụt đến sản xuất nông nghiệp tại hạ lưu sông Kỳ Lộ, tỉnh Phú Yên" của tác giả Võ Thị Như Sương, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Huyền từ Trường Đại Học Quy Nhơn, tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của lũ lụt đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trong khu vực này. Nghiên cứu chỉ ra rằng lũ lụt không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sinh kế của nông dân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp.

Độc giả có thể mở rộng hiểu biết về các khía cạnh liên quan đến nông nghiệp và quản lý thiên tai thông qua các tài liệu như Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp kiến thức về tổ chức công tác khuyến nông, giúp nông dân ứng phó tốt hơn với các biến động thiên nhiên. Bên cạnh đó, Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh thiên tai. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến nông nghiệp và môi trường, từ đó giúp nông dân và nhà quản lý có được những thông tin cần thiết để ứng phó với các thách thức từ thiên nhiên.