CHƯƠNG I: TONG QUAN I. Những khái niệm về tinh dễ bị tốn thương đối với Biến déi Khí hậu Có nhiều khái niệm về tính dé bị tốn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tinh dé bị tổn thương. TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghẻo đói, vv.Gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của BĐKH. Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu.
Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điền hình như sau: Chamber (1983) định nghĩa TDBTT có 2 mặt. Một mặt là rủi ro bên ngoài, các cú sốc ma một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tác động của BDKH va một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năng bảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại. O'brien và Mileti (1992) đã thử nghiệm TDBTT đối với BDKH và khang định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả năng chống chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc và tình trạng sức khỏe của người dân có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định đến TDBTT. Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đối tượng dễ bị tổn thương do những rủi ro môi trường và nguy cơ phơi lộ.
Dân số trong độ tuôi lao động và có sức khỏe tốt có nhiều kha năng đối phó và do đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơ phơi lộ. Blaikie va cộng sự (1994) định nghĩa TDBTT là các đặc điểm của một người hoặc một nhóm người về khả năng của họ để dự đoán trước, đối phó với, chống chịu và phục hồi từ các tác động của các nguy cơ tự nhiên và khăng định răng TDBTT có thé được đánh giá thông qua khả năng chống chịu và mức độ nhạy cảm. Watson và cộng sự (1996) định nghĩa TDBTT như mức độ mà BĐKH có thé gây thiệt hai hoặc gây tồn hại cho một hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm của hệ thống đó mà còn về năng lực thích ứng với các điều kiện khí hậu mới. Formatted: Font: Bold, Check spelling and grammar | Formatted: Font: Bold, Font color: Auto Atkins và cộng sự (1998) đã nghiên cứu các phương pháp đo lường TDBTT và xây dựng một sự kết hợp chỉ số TDBTT thích hợp cho các nước đang phát triển.
Các chỉ số dễ bị tổn thương tổng hợp đã được trình bày cho một mẫu của 110 nước phát triển có số liệu thích hợp có sẵn. Các chỉ số cho thấy rằng các quốc gia nhỏ đặc biệt dé bị tốn thương khi so sánh với các quốc gia lớn. Giữa các quốc gia nhỏ, Cape Verde và Trinidad và Tobago, được ước tính có TDBTT tương đối thấp còn phần lớn được ước tính có TDBTT tương đối cao; và các nước như Tonga, Antigua và Barbedas có TDBTT cao đối với các yếu tố kinh tế và môi trường bên ngoài. Handmer và cộng sự (1999) đã nghiên cứu các cơ chế đối phó với cú sốc môi trường hoặc nguy cơ gây ra ton thương về mặt sinh lý.
Các yếu tố như sự ổn định về thể chế và chất lượng của cơ sở hạ tầng công cộng là rất quan trọng trong việc xác định TDBTT đối với BĐKH. Một xã hội với cơ sở hạ tang công cộng thích hợp sẽ có thê đối phó với một mối nguy một cách hiệu quả và do đó làm giảm TDBTT. Một xã hội như vậy có thé được xem như một xã hội có TDBTT thấp. Nếu không có năng lực thê chế liên quan đến các kiến thức về các hiện tượng và năng lực đối phó, thì TDBTT cao có khả năng chuyển rủi ro về sinh lý thành một tác động đến dân sé.
Theo Adger (1999), TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dé bị thiệt hại do BDKH. Nó được coi là một hàm của hai thành phần: ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng như vậy có thể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure). Kasperson và cộng sự (2000) định nghĩa TDBTT như mức độ mà một hệ thống dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thắng và thiếu năng lực hoặc các biện pháp dé đối phó, phục hồi hoặc thích ứng một cách cơ bản dé trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ bị mất đi vĩnh viễn. Chris Easter (2000) đã xây dựng một chỉ số TDBTT đối với các quốc gia khối thịnh vượng chung, dựa trên hai nguyên tắc.
Đầu tiên là tác động của các cú sốc bên ngoài mà quốc gia này đã bị ảnh hưởng và thứ hai là khả năng chống chịu của một Formatted: Font: Bold, Check spelling and quốc gia để chống cự và phục hồi từ những cú sốc như vậy. Phân tích sử dụng một grammar | Formatted: Font: Bold, Font color: Auto 6 wa mẫu của 111 nước đang phát triển trong đó có 37 nước nhỏ và 74 nước lớn mà có sẵn dữ liệu có liên quan. Kết quả cho thấy trong số 50 nước dé bị tôn thương nhất, có 33 nước nhỏ trong đó có 27 nước kém phát triển nhất và 23 hòn đảo. Trong 50 quốc gia ít bị tốn thương nhất, chỉ có hai tiểu bang.
Moss và cộng sự (2001) đã xác định mười đại diện cho năm lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến khí hậu đó là mức độ nhạy cảm về định cư, an ninh lương thực, sức khỏe con người, hệ sinh thái và nguồn nước và bảy đại diện cho ba lĩnh vực đối phó và năng lực thích ứng, năng lực kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực tài nguyên môi trường hay tự nhiên. Các đại diện đã được tổng hợp thành các chỉ số ngành, các chỉ số về mức độ nhạy cảm và các chỉ số đối phó hoặc năng lực thích ứng và cuối cùng là xây đựng các chỉ số về khả năng chống chịu TDBTT đối với BĐKH. Dolan và Walker (2003) đã thảo luận các khái niệm về TDBTT và trình bày một khung tích hợp đa cấp để đánh giá TDBTT va năng lực thích ứng. Những yếu tố quyết định năng lực thích ứng bao gồm khả năng tiếp cận và phân phối của cải, công nghệ, và thông tin, nhận thức và quan điềm về rủi ro, vốn xã hội và các khung thể chế quan trọng để giải quyết các nguy cơ của BĐKH.
Chúng được xác định ở cấp độ cá nhân và cộng đồng và nằm trong phạm vi khu vực thiết lập, quốc gia và quốc tế. Kiến thức truyền thống va địa phương là chia khóa để thiết kế và thực hiện nghiên cứu và cho phép kết quả có liên quan tại địa phương có thé hỗ trợ trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và quản lý hiệu quả hơn tại các khu vực ven biển xa xôi hẻo lánh. Katharine Vincent (2004) đã tạo ra một chi số dé đánh giá thử nghiệm mức độ tương đối của dé TDBTT về mặt xã hội đối với sự thay đổi nguồn nước do tác động của BĐKH và cho phép so sánh chéo giữa các nước ở châu Phi. Một chỉ số tổng hợp TDBTT về mặt xã hội được tính bằng cách lấy trung bình của năm chỉ số phụ thành phan, đó là các chỉ số về sự giàu có và én định về mặt kinh tế, cơ cấu dân số, ôn định thê chế và chất lượng cơ sở hạ tầng công cộng, sự kết nối toàn cầu và sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.
Kết qua chỉ ra rằng thông qua việc sử dụng các dữ liệu hiện tại, Niger, Sierra Leone, Burundi, Madagascar và Burkina Faso là những nước dễ bị tổn thương nhất ở châu Phi. Formatted: Font: Bold, Check spelling and grammar | Formatted: Font: Bold, Font color: Auto USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (United State Environment Protection Agency, 2006) định nghĩa tính ton thương của một hệ thống là mức độ tôn that của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ. Trên thực tế, IPCC đã đưa ra các khái niệm khác nhau về TDBTT đối với BĐKH qua các năm.
Năm 1992, TDBTT được định nghĩa như mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BDKH và nước biển dâng. Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 (SAR) của IPCC đã định nghĩa TDBTT là mức độ mà BĐKH có thé gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Định nghĩa này bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, kha năng phục hồi của hệ thống dé chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH. Năm 2001, báo cáo lần thứ 3 (TAR) của IPCC đã định nghĩa tính dễ bị tốn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm với các thiệt hại do BDKH gây ra.
TDBTT là một hàm của mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những thay đổi của khí hậu (mức độ mà một hệ thống sẽ ứng phó với một sự thay đổi của khí hậu, bao gồm những tác động có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức độ mà sự điều chỉnh trong thực tiễn, quá trình thực hiện, hoặc cơ cấu có thể giảm nhẹ hoặc bù lại được những thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo ra từ sự thay đổi khí hậu đó), và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơ khí hậu. Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) của IPCC đã định nghĩa tính dé bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống bị nhạy cảm hoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan. TDBTT là một hàm của các đặc tính, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao dộng khí hậu mà hệ thống đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ thống đó.