Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở huyện Thường Tín từ năm 2008 đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện thường tín thành phố hà nội lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6. Những đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

1.2. Khái niệm dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.3. Khái quát chung về huyện Thường Tín và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của huyện trước năm 2008

1.3.1. Khái quát chung về huyện Thường Tín

1.3.2. Tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện trước năm 2008

1.4. Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2010

1.4.1. Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về thực hiện QCDC ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2010

1.4.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Thường Tín về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2010

1.4.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng bộ huyện Thường Tín từ năm 2008 đến năm 2010

1.4.4. Tác động của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đối với sự phát triển ổn định của huyện Thường Tín từ năm 2008 đến năm 2010

1.5. Tiểu kết chương 1

2. ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Thường Tín về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.2. Tình hình và yêu cầu tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.3. Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.4. Chủ trương của Đảng bộ huyện Thường Tín về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.5. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín và kết quả đạt được về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.6. Củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở các cấp từ huyện đến cơ sở

2.7. Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức thực hiện dân chủ ở xã, thị trấn

2.8. Lãnh đạo thực hiện các mục tiêu dân chủ ở cơ sở từ năm 2011 đến năm 2015

2.9. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Thường Tín 2008 2015

Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Thường Tín từ năm 2008 đến năm 2015 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự phát triển của quy chế dân chủ trong bối cảnh chính trị và xã hội của Việt Nam. Huyện Thường Tín, một trong những huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, đã có những bước tiến đáng kể trong việc thực hiện quy chế dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã đóng vai trò then chốt trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các quyết định quan trọng liên quan đến đời sống xã hội.

1.1. Khái quát về huyện Thường Tín và quy chế dân chủ

Huyện Thường Tín có vị trí địa lý thuận lợi, với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã giúp nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đảng bộ huyện đã triển khai nhiều hoạt động nhằm khuyến khích sự tham gia của người dân trong các vấn đề xã hội.

1.2. Vai trò của lãnh đạo trong thực hiện quy chế dân chủ

Lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín đã thể hiện rõ vai trò trong việc chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ. Các chủ trương, chính sách được ban hành đã tạo ra khung pháp lý vững chắc, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và thực hiện quyền lợi của mình.

II. Những thách thức trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở Thường Tín 2008 2015

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Thường Tín vẫn gặp phải không ít thách thức. Những vấn đề như sự thiếu đồng bộ trong các chính sách, sự tham gia hạn chế của người dân, và những rào cản trong việc thực hiện quyền lợi của nhân dân đã ảnh hưởng đến hiệu quả của quy chế này.

2.1. Thiếu sự tham gia của người dân

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu tham gia của người dân trong các hoạt động chính trị. Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình trong quy chế dân chủ, dẫn đến việc họ không tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng.

2.2. Rào cản từ cơ chế chính sách

Các cơ chế chính sách hiện hành đôi khi chưa đủ linh hoạt để đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong việc thực hiện các quyền lợi của nhân dân theo quy chế dân chủ.

III. Phương pháp lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ hiệu quả ở Thường Tín

Để khắc phục những thách thức, Đảng bộ huyện Thường Tín đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của huyện.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về quy chế dân chủ đã được đẩy mạnh, giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Các hình thức tuyên truyền đa dạng, từ hội thảo đến các buổi sinh hoạt cộng đồng, đã được tổ chức thường xuyên.

3.2. Cải cách hành chính và nâng cao trách nhiệm

Đảng bộ huyện đã thực hiện nhiều cải cách hành chính nhằm nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong việc thực hiện quy chế dân chủ. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu thủ tục hành chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận thông tin.

IV. Kết quả đạt được từ việc thực hiện quy chế dân chủ ở Thường Tín

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Thường Tín từ năm 2008 đến năm 2015 đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những kết quả này không chỉ thể hiện qua sự phát triển kinh tế mà còn qua sự nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

4.1. Nâng cao chất lượng cuộc sống

Sự tham gia của người dân vào các quyết định quan trọng đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống. Người dân có cơ hội đóng góp ý kiến và tham gia vào các dự án phát triển địa phương, từ đó cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

4.2. Tăng cường lòng tin của nhân dân

Việc thực hiện quy chế dân chủ đã góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền. Người dân cảm thấy được lắng nghe và tôn trọng, từ đó tạo ra sự gắn kết giữa chính quyền và cộng đồng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quy chế dân chủ ở Thường Tín

Kết thúc giai đoạn 2008-2015, việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Thường Tín đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả, cần có những định hướng rõ ràng cho tương lai.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Để thực hiện quy chế dân chủ một cách hiệu quả, huyện Thường Tín cần xây dựng các kế hoạch phát triển bền vững, đảm bảo sự tham gia của người dân trong mọi quyết định quan trọng.

5.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng cần được củng cố hơn nữa, nhằm đảm bảo rằng quy chế dân chủ được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của huyện.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện thường tín thành phố hà nội lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất; đổi mới nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành tựu văn minh nhân loại, bảo đảm quá trình đổi mới diễn ra đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Bởi vậy, trên thực tế, quyền làm chủ của Nhân dân đã từng bước được khơi dậy và phát huy. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng với việc thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXHđã nhấn mạnh: "Xã hội mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ", và "Toàn bộ tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [22, tr.

Có thể nói: Thực hiện dân chủ XHCN là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của công cuộc đổi mới. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), tiếp tục khẳng định "Xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trịở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thểđể thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp và các hình thức tự quản tại cơ sở" [22, tr. Việc ban hành Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị và Nghịđịnh 29/1998/NĐ-CP là sự cụ thể hóa quan điểm đó của Đảng và Nhà nước ta. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001), được xem làĐại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết và đổi mới. Tại Đại hội này, nội dung dân chủ lại càng được coi trọng.

Dân chủ đãđược đặt trong những mục tiêu của con đường đi lên CNXH ở nước ta, đó là: "Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" [26, tr. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: "Xây dựng một xã hội dân chủ, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội" và khẳng định: "Phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển của đất nước". Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), quan điểm của Đảng về dân chủ và phát huy dân chủ ở Việt Nam tiếp tục là sự kế thừa và phát triển có chọn lọc các giá trị nhân loại phù hợp với điều kiện của đất nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân [34, tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đảng cộng sản Viêt Nam đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiện hơn mục tiêu XHCN: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển của đất nước, vì nó phát huy tích cực, chủ động, tự giác, giải phóng năng lực sáng tạo của con người. Nhìn nhận về vấn đề dân chủ và mở rộng dân chủ trong Đảng cũng như trong xã hội, có thể nói, từ Đại hội XI đến Đại hội XII (2016) của Đảng, đã có một bước tiến đáng kể.

Với việc đặt “dân chủ” lên trước “công bằng”, “văn minh” trong mục tiêu phấn đấu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đại hội XII nêu lên “phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân”, trong đó có cả việc “tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc”. Dân chủ và phát huy dân chủ là một nội dung lớn, quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình tiến hành tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng trong suốt quá trình hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng và 30 năm đổi mới đất nước. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đồng thời cũng là nền tảng chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.Thực hiện Quy chế dấn chủ ở cơ sở - Bước đột phá trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta Nhận thức rõ dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta không ngừng nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện và bước đầu tìm tòi các hình thức dân chủ trực tiếp.

Vì thế, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì nền dân chủ xã hội ngày càng được mở rộng, từ dân chủ về chính trị, kinh tế đến dân chủ trên lĩnh vực ý thức, tư tưởng. Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn chặn đẩy lùi được. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa thành pháp luật nên chậm đi vào cuộc sống. Tình trạng mất dân chủ, không để dân bàn bạc, quyết định những công việc cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, không minh bạch về tài chính, tình trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị đùn đẩy không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền, làm triệt tiêu nguồn động lực của nhân dân và xâm phạm bản chất tốt đẹp của chế độ.

Chính vì vậy, ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW về thực hành và thực hiện QCDC ở cơ sở. Bộ Chính trị đã xác định, lúc này "khâu quan trọng và cấp bách trước hết là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở" [24, tr.2] và chỉ rõ thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách không phù hợp với cuộc sống của nhân dân ở cơ sở, thực hiện quyền làm chủ tham gia kiểm kê, kiểm soát, tích cực xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh; bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở là bước tiến mới trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là nét mới trong đời sống chính trị của xã hội ta, đáp ứng nguyện vọng sâu sắc của hàng chục triệu quần chúng nhân dân theo Đảng làm cách mạng. Kể từ khi QCDC ở cơ sở được ban hành, cả nước đã dấy lên những đợt vận động chính trị sôi động, đảm bảo không ngừng mở rộng nền dân chủ XHCN.

Cơ sở có 03 loại hình cơ bản: xã, phường, thị trấn; cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước. Mỗi loại hình có đặc điểm riêng, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để ban hành và thực hiện quy chế cho phù hợp. Thứ nhất, thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn là nói tới việc đem lại quyền dân chủ cho nhân dân đang sinh sống, làm việc ở cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị bốn cấp ở nước ta, gắn chặt với cộng đồng dân cư. Xã, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phường, thị trấn là những đơn vị cơ sở ở cả nông thôn và thành thị, cần đặc biệt chú ý đến địa bàn nông thôn vì đây là địa bàn rộng lớn, chiếm khoảng 80% dân số, 70% lao động xã hội, nơi sản xuất lương thực, thực phẩm, nguyên liệu.đồng thời cũng bộc lộ nhiều vấn đề phát sinh cần được nghiêm túc nhìn nhận như tình trạng cục bộ, vị bản, có những nơi khiếu kiện kéo dài, mâu thuẫn bùng phát gây ra các hậu quả nghiêm trọng.

Ngay sau khi có Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị, ngày 11/5/1998 Chính phủ có Nghị định số 29/NĐ-CP về việc ban hành thực hiện QCDC ở xã (nay được thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 của Chính phủ). Ngày 15/5/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg về việc xây dựng thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Ngày 6/7/1998 Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn áp dụng quy chế thực hiện dân chủ đối với phường và thị trấn. Ngày 31/3/2000, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.

Thứ hai, dân chủ hóa trong DNNN có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, quyết định trực tiếp quá trình cải cách DNNN và đem lại quyền tự chủ cho giai cấp công nhân. Bên cạnh những thành tựu quan trọng thì trong hệ thống DNNN đang tồn tại nhiều bức xúc như tham nhũng, làm ăn kém hiệu quả, quyền làm chủ của người lao động bị vi phạm. Điều này đặt ra nhiều vấn đề cấp bách đòi hỏi Đảng ta phải tìm các giải pháp hữu hiệu để tiếp tục cải cách DNNN, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trong đó dân chủ hóa là một biện pháp quan trọng. QCDC ở DNNN ra đời (do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 07/1999/NĐ-CP về Ngày 13/2/1999) là nhằm mục đích đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ