Luận văn thạc sĩ: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo xóa đói giảm nghèo 2005-2015

Luận văn phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2005-2015. Đánh giá thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo xóa đói giảm nghèo 2005 2015

Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc với 70 xã vùng cao trên tổng số 180 xã, phường, thị trấn. Trong đó có 62 xã đặc biệt khó khăn, 2 huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải thuộc diện 61 huyện nghèo của cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao, tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng bộ tỉnh Yên Bái xác định xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2005-2015. Công tác này gắn liền với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Chương trình giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực từ phát triển sản xuất, đào tạo nghề đến xây dựng hạ tầng thiết yếu. Mục tiêu đặt ra là giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

1.1. Bối cảnh triển khai chương trình giảm nghèo

Nghèo đói là vấn đề mang tính toàn cầu, được các quốc gia quan tâm giải quyết. Tháng 10 năm 2000, 189 nguyên thủ quốc gia ký cam kết đạt mục tiêu thiên niên kỷ giảm nghèo đói xuống còn một nửa vào năm 2015. Việt Nam hoàn thành mục tiêu này sớm 13 năm, được đánh giá là điểm sáng về giảm nghèo. Tại Yên Bái, tỉnh miền núi với đặc thù địa hình phức tạp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Đảng bộ tỉnh nhận thức rõ trách nhiệm lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo.

1.2. Thành tựu đạt được trong giai đoạn 2005 2015

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, công tác giảm nghèo ở Yên Bái đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế, giáo dục. Cơ sở hạ tầng các huyện, xã nghèo được tăng cường đầu tư. Chương trình gắn liền với xây dựng nông thôn mới, tạo chuyển biến toàn diện ở vùng khó khăn.

II. Phân tích khó khăn thách thức trong xóa đói giảm nghèo

Yên Bái đối mặt với nhiều khó khăn đặc thù trong công tác giảm nghèo. Địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn gây cản trở phát triển kinh tế. Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn, trình độ dân trí không đồng đều. Nhiều hộ thoát nghèo nhưng mức thu nhập sát chuẩn nghèo, tỷ lệ tái nghèo hàng năm còn cao. Chênh lệch giàu nghèo giữa vùng thấp và vùng cao, giữa thành thị và nông thôn khá lớn. Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, đời sống người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn. Hệ thống cơ sở hạ tầng vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn, hạn chế tiếp cận thị trường. Tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu vốn và kiến thức khoa học kỹ thuật là rào cản lớn.

2.1. Đặc thù tự nhiên và dân cư ảnh hưởng đến giảm nghèo

Yên Bái có 70 xã vùng cao, trong đó 62 xã đặc biệt khó khăn. Địa hình đồi núi chiếm tỷ lệ lớn, đất canh tác manh mún, thiếu nước tưới tiêu. Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở vùng cao, vùng biên giới. Trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán sản xuất cũ còn tồn tại. Thời tiết khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Đây là những yếu tố khách quan khiến công tác giảm nghèo gặp nhiều trở ngại.

2.2. Hạn chế trong tiếp cận dịch vụ và cơ hội phát triển

Người nghèo vùng cao khó tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng. Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa đồng bộ, cách trở vào mùa mưa lũ. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến tay người nghèo còn hạn chế. Thiếu thông tin thị trường, sản phẩm nông sản khó tiêu thụ. Lao động nông thôn thiếu việc làm ổn định, thu nhập bấp bênh. Các chương trình đào tạo nghề chưa gắn liền với nhu cầu thực tế địa phương.

III. Giải pháp và phương pháp xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ

Đảng bộ tỉnh Yên Bái đề ra nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện công tác giảm nghèo. Tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt ưu tiên xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống người nghèo, trước hết là vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Gắn giảm nghèo bền vững với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở huyện nghèo, xã nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền. Thực hiện đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho lao động nông thôn. Mở rộng hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất kinh doanh.

3.1. Chính sách phát triển kinh tế và đào tạo nghề

Đảng bộ chỉ đạo triển khai nhiều chương trình phát triển kinh tế phù hợp với đặc thù địa phương. Chính sách trợ giá nông sản được thực hiện nhằm tăng thu nhập hộ nông dân. Đào tạo nghề gắn liền với tạo việc làm, phù hợp với nhu cầu thị trường. Phát triển nghề phụ, ngành nghề truyền thống để đa dạng hóa nguồn thu. Hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Tín dụng ưu đãi giúp người nghèo có vốn đầu tư phát triển sản xuất.

3.2. Đầu tư hạ tầng và an sinh xã hội

Đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng khó khăn. Nâng cấp đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế xã. Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội cho đối tượng yếu thế. Tăng cường trợ giúp người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục. Xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, đảm bảo nước sạch sinh hoạt. Chương trình giảm nghèo gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

IV. Kết quả và ý nghĩa công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2005 2015

Sau 10 năm triển khai, công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Yên Bái đạt nhiều kết quả quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện toàn diện. Cơ sở hạ tầng vùng cao được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Người nghèo tiếp cận tốt hơn dịch vụ xã hội, nâng cao dân trí và kỹ năng sản xuất. Chương trình giảm nghèo góp phần ổn định chính trị, đảm bảo an sinh xã hội. Kết quả đạt được thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh. Công tác giảm nghèo gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Thành tựu này là nền tảng quan trọng để Yên Bái tiếp tục phấn đấu trong giai đoạn tiếp theo.

4.1. Kết quả đạt được về giảm nghèo bền vững

Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm mạnh so với đầu giai đoạn. Số hộ thoát nghèo tăng lên, mức thu nhập ổn định hơn. Tỷ lệ tái nghèo được kiểm soát, đời sống người nghèo cải thiện rõ rệt. Hạ tầng vùng khó khăn được đầu tư, tạo đà phát triển kinh tế. Người nghèo tiếp cận tốt hơn dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng. Chương trình giảm nghèo được đánh giá là thành công, đạt mục tiêu đề ra.

4.2. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm rút ra

Công tác giảm nghèo góp phần thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của quốc gia. Bài học kinh nghiệm là cần sự lãnh đạo đồng bộ, huy động toàn dân tham gia. Gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế bền vững, xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đầu tư vùng đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện người nghèo tự vươn lên. Đào tạo nghề và chuyển giao khoa học kỹ thuật là giải pháp then chốt. Thành công này khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng bộ tỉnh Yên Bái.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Luận văn đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VÀ THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở YÊN BÁI TRƯỚC NĂM 2005 1. Một số khái niệm liên quan đến đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế - xã hội châu Á và Thái Bình Dương của Liên hợp Quốc (ESCAP) tổ chức vào tháng 9- 1993 đã tập trung bàn về khái niệm, các tiêu chí đánh giá sự đói nghèo và các giải pháp về XĐGN tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Hội nghị đã đưa ra khái niệm được nhiều quốc gia chấp nhận và sử dụng trong những năm qua: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương [38, tr. Từ khái niệm này, người ta chia nghèo đói thành 2 loại: “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.

Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối: là tình trạng bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương. Khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ nghèo khổ giữa các quốc gia. Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo là đất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực hạn hẹp, cơ sở hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế.

9 Trong đấu tranh chống nạn nghèo đói người ta dùng khái niệm “nghèo tương đối”. Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính tương đối cả về không gian và thời gian. Từ định nghĩa của ESCAP, qua nhiều cuộc khảo sát nghiên cứu, các nhà khoa học và quản lý ở các bộ ngành nước ta đã thống nhất khái niệm về đói nghèo của Việt Nam là: “Nghèo”: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. “Đói”: là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống [56, tr.

Khái niệm đói cũng có hai dạng: “Đói kinh niên” và “đói cấp tính”. + Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét. + Đói cấp tính (đói gay gắt): là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét. Xem xét quan niệm nghèo và đói cho thấy: đói là khái niệm dùng để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư.

Giữa đói và nghèo cũng có quan hệ mật thiết với nhau, nó phản ánh cấp độ và mức độ khác nhau, "nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên của nghèo"[47, tr. Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tr lệ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùng một thời điểm. Quốc gia nghèo: Là một đất nước có thu nhập trung bình rất thấp, 10 nguồn lực (tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở hạ thầng môi trường thấp kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế. Một số khái niệm khác như: Nghèo không gian, nghèo thời gian, nghèo môi trường, nghèo lứa tuổi, nghèo giới.

tất cả chỉ là xác định rõ hơn đặc điểm, mức độ, nguyên nhân của các đối tượng nghèo và từ đó sẽ có những giải pháp thích hợp cho từng đối tượng nghèo khác nhau. Chuẩn nghèo (đường nghèo, ngưỡng nghèo, tiêu chí nghèo): Là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để đo lường, giám sát nghèo đói. Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo.

Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo, thoát nghèo. Chính sách xoá đói, giảm nghèo: Là hệ thống các giải pháp và công cụ xác định vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việc phân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho người dân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân. Khái niệm này được thâu tóm một cách cô đọng kinh nghiệm thực tiễn giảm bớt đói nghèo của các nước trong khu vực và trên thế giới, nó có ý nghĩa tư vấn và chỉ đạo quá trình tìm kiếm con đường và cách thức xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Xoá đói, giảm nghèo bền vững: Là một nội dung của phát triển bền vững về mặt xã hội.

Phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mức độ bảo đảm dinh dưỡng, chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; mọi người đều có cơ hội được học hành; giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội; 11 nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên của xã hội và giữa các thế hệ của một xã hội; duy trì và phát huy tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh của đời sống vật chất và tinh thần…. Xoá đói, giảm nghèo bền vững là một hệ thống các giải pháp và công cụ đồng bộ xác định rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội giúp người dân vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo đói mà không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, không bị nguy cơ tái đói nghèo đe doạ. Trên đây là những khái niệm có tính chất công cụ khi nghiên cứu về vấn đề xóa đói, giảm nghèo. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến công tác xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái Trước tháng 8/1991, Yên Bái thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tại kỳ họp thứ 9 (27/7-12/8/1991), Quốc hội khoá VIII quyết định tách tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai.

Tháng 9/1991, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời đã tiến hành Hội nghị thông báo Quyết định của Bộ chính trị về việc thành lập Đảng bộ lâm thời tỉnh Yên Bái. Ngày 1/10/1991, tỉnh Yên Bái chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc và Đông Bắc, giữa miền trung du và thượng du của Bắc Việt Nam, chiều rộng từ Đông sang Tây dài 120 km, từ Bắc xuống Nam dài 100 km. Phía Bắc giáp tỉnh Lao Cai, phía Đông giáp hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Lai Châu, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ.

Yên Bái bao gồm 1 thành phố: Yên Bái, 1 thị xã: Nghĩa Lộ và 7 huyện: Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải; với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào 12 Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước. Yên Bái là trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước. Địa hình Yên Bái phức tạp, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi núi cao, sông, ngòi, khe suối; hướng cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc; độ cao trung bình so với mặt nước biển là 600m. Vùng cao có hai dãy núi lớn: Pú Luông ở phía Tây và con Voi ở phía Đông Bắc, trong đó đỉnh Pú Luông cao 2.

Vùng thấp tập trung ở ven sông Hồng, sông Chảy và cánh đồng Mường Lò, có nơi chỉ cao hơn mặt nước biển 26m (xã Minh Quân, huyện Trấn Yên). Do địa hình như vậy, giao lưu mọi mặt giữa các vùng gặp nhiều trở ngại, việc xây dựng hệ thống giao thông vận tải rất khó khăn, tốn kém, ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Theo số liệu thống kê năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688. Trong đó diện tích nhóm đất nông nghiệp là 583.717,47 ha, chiếm 84,76% diện tích đất tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 51.713,13 ha chiếm 7,51%; diện tích đất chưa sử dụng là 53.197,04 ha chiếm 7,71%; Diện tích đất có rừng toàn tỉnh Yên Bái đạt 406.

Trong đó: đất rừng tự nhiên 231.563,7ha, đất rừng trồng 174. Đất đai Yên Bái màu mỡ, cùng với khí hậu thuận lợi rất thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của các loại cây nhiệt đới, trong đó có những cây quan trọng như lúa, ngô, chè, quế, mía, nhãn, cam, bưởi. Chè Suối Giàng, gạo nếp Tú Lệ, quế Văn Yên là những đặc sản nổi tiếng trong nước và quốc tế. Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 – 230C; (cao nhất từ 37-390C, thấp nhất từ 2-40C); tổng nhiệt độ trong năm từ 7.0000C lượng mưa trung bình 1.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp.

Dựa 13 trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu. Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình 18 – 200C, có khi xuống dưới 00C về mùa đông, thích hợp phát triển các loại động, thực vật vùng ôn đới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ