Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - Đối tượng, chức năng và phương pháp nghiên cứu

Tìm hiểu sâu sắc về Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cập nhật nội dung mới nhất, chi tiết và hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
269
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là tài liệu học thuật quan trọng, nghiên cứu sự ra đời, phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 3-2-1930. Từ thời điểm đó, lịch sử Đảng hòa quyện cùng lịch sử dân tộc Việt Nam. Đảng đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử Đảng là chuyên ngành thuộc khoa học lịch sử, được nghiên cứu từ rất sớm. Năm 1933, tác giả Hồng Thế Công công bố tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương. Năm 1962, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương được thành lập. Giáo trình này kế thừa và phát triển các giáo trình trước đây, phù hợp yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo theo quan điểm của Đảng.

1.1. Sự hình thành và phát triển chuyên ngành lịch sử Đảng

Chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành từ rất sớm trong tiến trình cách mạng. Năm 1933, tác phẩm đầu tiên về lịch sử phong trào cộng sản được công bố. Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng luôn coi trọng tổng kết lịch sử. Đại hội III năm 1960 nêu rõ nhiệm vụ nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo. Năm 1962, cơ quan chuyên trách nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng được thành lập. Từ thập niên 60, bộ môn lịch sử Đảng chính thức giảng dạy tại các trường đại học và cao đẳng.

1.2. Vai trò nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc. Đảng đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản. Với nền tảng tư tưởng vững chắc, Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam đạt được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng được hiến định và khẳng định qua thực tiễn lịch sử.

II. Phân tích đối tượng và nội dung nghiên cứu lịch sử Đảng

Đối tượng nghiên cứu của giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là sự ra đời, phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Trước hết cần phân biệt rõ sự kiện lịch sử Đảng gắn trực tiếp với sự lãnh đạo của Đảng. Phân biệt sự kiện lịch sử Đảng với sự kiện lịch sử dân tộc và lịch sử quân sự cùng thời kỳ. Nội dung giáo trình bao quát toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ giai đoạn chuẩn bị thành lập Đảng, qua các cuộc kháng chiến, đến công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Mỗi giai đoạn lịch sử đều chứa đựng bài học kinh nghiệm quý báu về đường lối cách mạng. Giáo trình giúp người học hiểu rõ quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Nội dung được biên soạn theo tiến trình lịch sử, đảm bảo tính hệ thống và khoa học.

2.1. Đối tượng nghiên cứu của môn học lịch sử Đảng

Đối tượng nghiên cứu chính là quá trình ra đời, hoạt động và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cần phân biệt sự kiện lịch sử Đảng với các sự kiện lịch sử dân tộc và quân sự cùng thời kỳ. Sự kiện lịch sử Đảng gắn trực tiếp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đối tượng bao gồm cả quá trình chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin là nội dung trọng tâm của giai đoạn đầu.

2.2. Nội dung giáo trình theo các thời kỳ lịch sử

Nội dung giáo trình được phân chia theo các thời kỳ lịch sử quan trọng của Đảng. Giai đoạn 1930-1945 bao gồm quá trình chuẩn bị thành lập Đảng và lãnh đạo cách mạng tháng Tám. Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giai đoạn 1954-1975 là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giai đoạn 1975-1986 là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ 1986 đến nay là công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn đều có những đóng góp và bài học riêng biệt.

III. Phương pháp nghiên cứu và biên soạn giáo trình lịch sử Đảng

Phương pháp nghiên cứu giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên phương pháp luận Marxist-Leninist. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được kết hợp chặt chẽ trong quá trình nghiên cứu. Phương pháp lịch sử giúp tái hiện trình tự thời gian các sự kiện. Phương pháp logic phân tích bản chất, nguyên nhân và quy luật của các hiện tượng lịch sử. Giáo trình được biên soạn theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, đảm bảo tính chính thống. Quyết định số 255CT năm 1992 thành lập Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia. Quá trình biên soạn kế thừa các giáo trình trước đây và phù hợp yêu cầu đổi mới giáo dục. Phương pháp tiếp cận liên ngành được áp dụng để làm rõ bối cảnh lịch sử. Tài liệu tham khảo bao gồm văn kiện Đảng, hồi ký và các công trình nghiên cứu uy tín.

3.1. Phương pháp tiếp cận khoa học trong nghiên cứu lịch sử Đảng

Phương pháp nghiên cứu lịch sử Đảng áp dụng nhiều cách tiếp cận khoa học khác nhau. Phương pháp lịch sử-xử lý luận giúp xác định trình tự phát triển của các sự kiện. Phương pháp so sánh đối chiếu làm rõ đặc điểm từng giai đoạn cách mạng. Phương pháp phân tích tổng hợp đánh giá tổng thể quá trình lãnh đạo của Đảng. Phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp lịch sử, chính trị học và xã hội học. Tất cả phương pháp đều phục vụ mục tiêu làm sáng tỏ đường lối và quy luật cách mạng.

3.2. Đổi mới trong biên soạn giáo trình theo yêu cầu hiện đại

Giáo trình lịch sử Đảng được biên soạn lại phù hợp yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. Sự kế thừa và phát triển từ các giáo trình trước đây đảm bảo tính liên tục. Nội dung cập nhật những nghiên cứu mới nhất về lịch sử Đảng. Phương pháp trình bày sinh động, hấp dẫn hơn để thu hút người học. Giáo trình đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ trong thời kỳ mới. Quá trình biên soạn có sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu về lịch sử Đảng.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng của giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản

Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đào tạo và nghiên cứu. Giáo trình trang bị kiến thức nền tảng về quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Người học hiểu rõ con đường cách mạng Việt Nam và quy luật phát triển của nó. Giáo trình góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng. Kiến thức lịch sử Đảng giúp củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Giáo trình phục vụ đào tạo cán bộ tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp. Nghiên cứu lịch sử Đảng rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng đất nước. Giáo trình là công cụ quan trọng trong công tác tư tưởng và giáo dục chính trị. Ứng dụng thực tiễn của giáo trình thể hiện trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội.

4.1. Ý nghĩa giáo dục chính trị tư tưởng của môn học

Môn học lịch sử Đảng có vai trò quan trọng trong giáo dục chính trị tư tưởng. Người học nhận thức sâu sắc về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Niềm tin vào Đảng và chế độ được củng cố qua hiểu biết lịch sử. Truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng được bồi đắp. Giá trị cốt lõi của dân tộc được kế thừa và phát huy. Môn học giúp thế hệ trẻ hiểu rõ công lao của các thế hệ đi trước. Bài học lịch sử là hành trang quý báu cho công cuộc xây dựng đất nước.

4.2. Ứng dụng trong đào tạo và nghiên cứu khoa học

Giáo trình lịch sử Đảng được sử dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục quốc dân. Các trường đại học, cao đẳng đưa môn học vào chương trình đào tạo chính thức. Nghiên cứu sinh và học viên cao học sử dụng giáo trình làm tài liệu tham khảo. Các viện nghiên cứu lịch sử dựa vào giáo trình để đào tạo cán bộ chuyên ngành. Giáo trình phục vụ công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên. Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học lịch sử và khoa học chính trị ngày càng mở rộng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945) MỤC TIÊU Về kiến thức: Cung cấp cho sinh viên những tri thức có tính hệ thống quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930), nội dung cơ bản, giá trị lịch sử của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền (1930-1945). Về tư tưởng: Cung cấp cơ sở lịch sử, góp phần củng cố niềm tin của thế hệ trẻ vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước-sự lựa chọn đúng đắn, tất yếu, khách quan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đầu dựng Đảng. Về kỹ năng: Từ việc nhận thức lịch sử thời kỳ đầu dựng Đảng, góp phần trang bị cho sinh viên phương pháp nhận thức biện chứng, khách quan về quá trình Đảng ra đời và vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xác lập chính quyền cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2- 1930 1.

Bối cảnh lịch sử Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội. Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa của các nước đế quốc. Trước bối cảnh đó, nhân dân các 16 dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân.

Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam. Trong bối cảnh đó, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản, mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.

Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới. Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản. Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) đã thông qua luận cương về dân tộc và thuộc địa do V.

Lênin khởi xướng. Cách mạng Tháng Mười và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương. Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trị địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam.

Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng khoảng trầm trọng. Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6-6-1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) 17 đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”7. Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của nhân dân. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai.

Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise)8 được thành lập ngày 17-10-1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) do toàn quyền Đông Dương Paul Dou mer (Pôn du me ) thực hiện và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề. Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vô cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”9.

Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp. Về văn hoá-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hoá, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”… 7 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, trang 401. 8 Bao gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Ai Lao. 9 Phan Văn Trường: Bài đăng trên tờ La Cloche Félée, số 36, ngày 21-1-1926.

18 Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc. Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong xã hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa. Một bộ phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; Một bộ phận khác nêu cao tinh thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản.

Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng thời là một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”10. Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.

Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền. Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ 10 Lê Duẩn: Giai cấp công nhân Việt Nam và liên minh công nông, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, trang 119. 19 bé11, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng. Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân.

Một bộ phận gắn liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực dân Pháp, trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc, họ bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy, phần lớn tư sản dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không có khả năng tập hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ