Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (hệ không chuyên)": { "ai_description": "Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2018

239
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình Lịch sử Đảng không chuyên

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là tài liệu chính thống do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn năm 2018. Giáo trình dành cho hệ đào tạo không chuyên lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc. Hội đồng biên soạn gồm 15 thành viên, do PGS. Nguyễn Trọng Phúc làm Chủ tịch. Giáo trình trình bày toàn bộ quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập ngày 3-2-1930 đến nay. Nội dung bám sát Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương. Tài liệu được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Giáo trình giúp sinh viên nắm vững đường lối cách mạng, truyền thống đấu tranh của dân tộc.

1.1. Đối tượng và phạm vi áp dụng

Giáo trình áp dụng cho hệ đào tạo không chuyên lý luận chính trị tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp. Quyết định số 5001/QĐ-BGDĐT ngày 29-11-2017 chính thức phê duyệt Hội đồng biên soạn. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, bộ môn lịch sử Đảng đã được giảng dạy chính thức trong hệ thống giáo dục. Ngày 13-7-1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về giảng dạy môn học này. Sinh viên thuộc mọi ngành học đều phải học tập môn Lịch sử Đảng như một môn bắt buộc trong chương trình đào tạo.

1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu Lịch sử Đảng

Nghiên cứu Lịch sử Đảng giúp hiểu rõ quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III năm 1960 đã nêu rõ nhiệm vụ tổng kết lịch sử Đảng. Việc nghiên cứu tập trung vào kinh nghiệm lãnh đạo, con đường và quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Năm 1962, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương được thành lập, nay là Viện Lịch sử Đảng. Nghiên cứu lịch sử Đảng là cơ sở để xây dựng niềm tin chính trị và định hướng tư tưởng cho thế hệ trẻ.

II. Phân tích nội dung cốt lõi của giáo trình

Giáo trình trình bày hệ thống các giai đoạn lịch sử quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phần nhập môn giới thiệu đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng. Nội dung chính bao gồm quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, sự ra đời của Đảng năm 1930, cuộc đấu tranh giành chính quyền 1930-1945. Giáo trình phân tích cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-1954 và chống Mỹ 1954-1975. Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới từ năm 1986 cũng được đề cập chi tiết. Mỗi giai đoạn đều được phân tích trên cả bình diện quốc tế và trong nước. Giáo trình nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh.

2.1. Quá trình hình thành tư tưởng cách mạng

Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, đặt nền móng cho phong trào cách mạng Việt Nam. Tháng 7-1920, Người đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của V.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Những luận điểm của Lênin đã giải đáp các vấn đề cơ bản về giải phóng dân tộc. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản. Người trở thành sáng lập viên Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

2.2. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của Đảng

Trước khi Đảng ra đời, phong trào yêu nước chịu nhiều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc tạo ra cục diện mới cho phong trào cách mạng quốc tế. Ở Đông Dương, thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa, đàn áp phong trào yêu nước. Tháng 9-1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, nhân dân chịu cảnh một cổ hai tròng. Ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng kịp thời chuyển trọng tâm công tác về nông thôn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua giai đoạn khó khăn, chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

III. Phương pháp nghiên cứu và học tập môn Lịch sử Đảng

Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng dựa trên nền tảng phương pháp luận Marxist-Leninist. Phương pháp lịch sử và logic được kết hợp chặt chẽ trong phân tích các sự kiện. Giáo trình sử dụng nguồn tài liệu chính thống từ các văn kiện Đảng, tác phẩm Hồ Chí Minh Toàn tập. Phương pháp so sánh được áp dụng để đánh giá các giai đoạn lịch sử khác nhau. Việc học tập yêu cầu sinh viên nắm vững niên đại, sự kiện và các nhân vật lịch sử. Phân tích nguyên nhân-kết quả là phương pháp cốt lõi để hiểu quy luật phát triển. Giáo trình khuyến khích liên hệ thực tiễn, vận dụng bài học lịch sử vào công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.

3.1. Phương pháp luận Marxist Leninist trong nghiên cứu

Phương pháp luận Marxist-Leninist là cơ sở khoa học để nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương pháp này yêu cầu nhìn nhận lịch sử từ quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp. Phân tích mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn cách mạng là nhiệm vụ trọng tâm. Chủ nghĩa duy vật lịch sử giúp hiểu đúng vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử. Phương pháp biện chứng chỉ ra mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử và xu hướng phát triển tất yếu.

3.2. Nguồn tài liệu và tư liệu tham khảo

Nguồn tài liệu chính thống gồm văn kiện Đại hội Đảng các khóa, nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương. Tác phẩm Hồ Chí Minh Toàn tập là nguồn tư liệu quý giá, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và các cơ quan truyền thông Đảng cung cấp thông tin bổ sung. Viện Lịch sử Đảng lưu trữ nhiều tài liệu gốc, bản thảo và hồi ký của các cán bộ lão thành. Các công trình nghiên cứu của học viện, viện nghiên cứu cũng là nguồn tham khảo quan trọng.

IV. Ứng dụng và tầm quan trọng của môn Lịch sử Đảng

Môn Lịch sử Đảng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. Kiến thức lịch sử Đảng giúp xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa. Việc hiểu biết lịch sử Đảng là cơ sở để nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái. Sinh viên vận dụng bài học lịch sử vào thực tiễn công tác và học tập hàng ngày. Truyền thống cách mạng của Đảng là động lực tinh thần to lớn cho thế hệ trẻ xây dựng đất nước. Giáo trình cung cấp nền tảng để sinh viên hiểu rõ bản chất cách mạng Việt Nam. Từ đó, mỗi công dân có ý thức trách nhiệm hơn đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

4.1. Vai trò trong giáo dục chính trị tư tưởng

Môn Lịch sử Đảng là công cụ quan trọng trong giáo dục chính trị tư tưởng tại các cơ sở đào tạo. Môn học giúp sinh viên nhận thức sâu sắc về truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc. Việc học tập Lịch sử Đảng xây dựng hệ giá trị cốt lõi, hình thành nhân cách cho người học. Giáo trình cung cấp cơ sở khoa học để sinh viên tự giác chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đây là môn học bắt buộc, có ý nghĩa thiết thực trong đào tạo nguồn nhân lực.

4.2. Liên hệ thực tiễn và vận dụng bài học lịch sử

V. Ứng dụng và tầm quan trọng của môn Lịch sử Đảng

Môn Lịch sử Đảng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. Kiến thức lịch sử Đảng giúp xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa. Việc hiểu biết lịch sử Đảng là cơ sở để nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái. Sinh viên vận dụng bài học lịch sử vào thực tiễn công tác và học tập hàng ngày. Truyền thống cách mạng của Đảng là động lực tinh thần to lớn cho thế hệ trẻ xây dựng đất nước. Giáo trình cung cấp nền tảng để sinh viên hiểu rõ bản chất cách mạng Việt Nam. Từ đó, mỗi công dân có ý thức trách nhiệm hơn đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

4.1. Vai trò trong giáo dục chính trị tư tưởng

Môn Lịch sử Đảng là công cụ quan trọng trong giáo dục chính trị tư tưởng tại các cơ sở đào tạo. Môn học giúp sinh viên nhận thức sâu sắc về truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc. Việc học tập Lịch sử Đảng xây dựng hệ giá trị cốt lõi, hình thành nhân cách cho người học. Giáo trình cung cấp cơ sở khoa học để sinh viên tự giác chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đây là môn học bắt buộc, có ý nghĩa thiết thực trong đào tạo nguồn nhân lực.

4.2. Liên hệ thực tiễn và vận dụng bài học lịch sử

Bài học lịch sử Đảng có giá trị ứng dụng cao trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng qua các thời kỳ giúp Đảng tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo. Truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng là bài học quý giá cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sinh viên cần vận dụng tinh thần cách mạng vào học tập, công tác và xây dựng đất nước. Bài học về độc lập, tự chủ trong đường lối đối ngoại vẫn nguyên giá trị trong bối cảnh quốc tế phức tạp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945) MỤC TIÊU Về kiến thức: Cung cấp cho sinh viên lịch sử ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, giá trị lịch sử của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng trong 15 năm đấu tranh giải phóng dân tộc (1930-1945). Về tư tưởng: Cung cấp cơ sở lịch sử, góp phần củng cố niềm tin của thế hệ trẻ vào con đường cách mạng vô sản - sự lựa chọn đúng đắn, tất yếu, khách quan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Về kỹ năng: Trang bị cho thế hệ trẻ phương pháp nhận thức biện chứng, khách quan từ lịch sử, góp phần nâng cao năng lực tư duy, nhận thức đúng đắn về chính trị-xã hội trong điều kiện lịch sử mới hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 1.

Bối cảnh lịch sử Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội. Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc. Trước bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở 19 thành một bộ phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân.

Phong trào đấu tranh đòi độc lập ở Trung Quốc với cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) và sự phát triển của chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn; Phong trào đòi độc lập ở Ấn Độ chống sự thống trị của thực dân Anh… đã tác động mạnh mẽ đến các khuynh hướng cứu nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng phát triển, V.Lênin đã phát triển học thuyết C.Mác và cùng với Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi (1917)-mở ra thời đại mới cho lịch sử loài người-thời dại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản, mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trị địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác.

Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng khoảng trầm trọng. Trước nguy cơ ngoại xâm, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp ước 1862, 1874, 1883) và đến năm 1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ 20 quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”1. Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của nhân dân.

Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai. Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp2. Với việc thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, Việt Nam từ một nước độc lập, có chủ quyền, trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Từ năm 1897, sau khi đàn áp phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp đã thiết lập được bộ máy cai trị, bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897- 1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929).

Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề. Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vô cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa”3. Về văn hoá-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hoá, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”… Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, trang 401. 2 Bao gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Ai Lao. 3 Phan Văn Trường: Bài đăng trên tờ La Cloche Félée, số 36, ngày 21-1-1926. 21 Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong xã hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa.

Một bộ phận địa chủ câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho chúng trong việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân theo phương thức phong kiến (thường là đại địa chủ); Một bộ phận khác nêu cao tinh thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản. Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng thời là một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. “Tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”1.

Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến. Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền. Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến và ngay khi ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam đã tiếp thu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga. Do vậy, tuy lực lượng công nhân Việt Nam còn ít2, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ tự phát đến tự giác, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.

Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Một bộ phận gắn liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực dân Pháp, 1 Lê Duẩn: Giai cấp công nhân Việt Nam và liên minh công nông, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, trang 119.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ