Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam lần 1 - Dành cho hệ không chuyên

Giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Tài liệu tham khảo quan trọng cho việc học tập và nghiên cứu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
218
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam lần 1

Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam lần 1 là tài liệu học thuật quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong việc hệ thống hóa kiến thức về quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 3-2-1930. Lịch sử Đảng hòa quyện và song hành cùng lịch sử dân tộc. Đảng đã lãnh đạo sự nghiệp cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là chuyên ngành thuộc khoa học lịch sử, nghiên cứu sâu sắc các sự kiện gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Năm 1962, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương được thành lập. Từ những năm 60 thế kỷ XX, bộ môn lịch sử Đảng được giảng dạy chính thức trong các trường đại học. Quyết định số 255CT năm 1992 thành lập Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia, trong đó có bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.1. Bối cảnh ra đời giáo trình lịch sử Đảng lần 1

Việc biên soạn giáo trình lịch sử Đảng lần 1 xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 đã nêu rõ nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng. Giáo trình kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây. Tác giả Hồng Thế Công tức Hà Huy Tập đã công bố tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương từ năm 1933. Các nhà lãnh đạo Đảng qua các thời kỳ đều có những tổng kết quan trọng về lịch sử Đảng. Giáo trình lần 1 hệ thống hóa toàn bộ kiến thức này phục vụ đào tạo.

1.2. Đối tượng nghiên cứu của môn học lịch sử Đảng

Môn học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống các sự kiện lịch sử Đảng. Nội dung tập trung vào quá trình Đảng ra đời, phát triển và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, kháng chiến cứu quốc, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các lĩnh vực nghiên cứu bao gồm chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Sự kiện lịch sử Đảng thể hiện hoạt động lãnh đạo phong phú, oanh liệt của Đảng. Qua đó làm sáng rõ bản chất cách mạng của Đảng với tư cách đội tiên phong của giai cấp công nhân.

II. Phân tích nội dung giáo trình lịch sử Đảng lần 1

Giáo trình lịch sử Đảng lần 1 được xây dựng với cấu trúc khoa học, logic phản ánh tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Nội dung giáo trình tập trung phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giai đoạn 1929-1933, Liên Xô đạt kết quả lớn trong công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, các nước tư bản chủ nghĩa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên quy mô lớn. Cuộc khủng hoảng lan nhanh đến các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Thực dân Pháp tăng cường vơ vét, bóc lột làm nền kinh tế Việt Nam sa sút nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và tay sai phát triển gay gắt. Giáo trình phân tích sâu sắc quá trình Đảng tập hợp lực lượng, xây dựng tổ chức và lãnh đạo cách mạng. Nội dung bao gồm cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và các chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng.

2.1. Bối cảnh lịch sử Đảng ra đời năm 1930

Những năm 1929-1933 là thời kỳ biến động sâu sắc trên thế giới. Liên Xô đạt được kết quả lớn trong công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với tốc độ phát triển kinh tế nhanh. Ngược lại, các nước tư bản chủ nghĩa rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản phát triển gay gắt. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động dâng cao. Cuộc khủng hoảng lan nhanh đến các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tại Việt Nam, thực dân Pháp tăng cường bóc lột để bù đắp hậu quả khủng hoảng ở chính quốc. Tình hình này làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp ngày càng gay gắt.

2.2. Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là đỉnh cao của quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng. Ngày 13-8-1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào ngày 14 và 15-8-1945 quyết định phát động tổng khởi nghĩa. Mục tiêu là giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Khẩu hiệu đấu tranh gồm: Phản đối xâm lược, Hoàn toàn độc lập, Chính quyền nhân dân. Ba nguyên tắc chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất và kịp thời. Phương hướng hành động phải đánh chiếm những nơi chắc thắng, phối hợp quân sự và chính trị.

III. Phương pháp biên soạn giáo trình lịch sử Đảng lần 1

Phương pháp biên soạn giáo trình lịch sử Đảng lần 1 tuân thủ nguyên tắc khoa học và cách mạng. Giáo trình áp dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic để phân tích sự kiện. Phương pháp lịch sử đảm bảo trình bày đúng trình tự thời gian, từ quá trình hình thành đến phát triển của Đảng. Phương pháp logic giúp phân tích nguyên nhân, bản chất và quy luật của các sự kiện. Giáo trình sử dụng nguồn tài liệu phong phú từ văn kiện Đảng, tác phẩm của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo. Phương pháp nghiên cứu đa chiều, xem xét sự kiện trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Giáo trình chú trọng phân tích mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa cách mạng Việt Nam với phong trào quốc tế. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được áp dụng để rút ra bài học lịch sử quý báu.

3.1. Nguyên tắc biên soạn giáo trình

Nguyên tắc biên soạn giáo trình lịch sử Đảng lần 1 đảm bảo tính khoa học, tính đảng và tính nhân dân. Tính khoa học thể hiện ở việc sử dụng nguồn tài liệu chính xác, phân tích có cơ sở lý luận. Tính đảng đảm bảo giáo trình phản ánh đúng quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân. Tính nhân dân thể hiện ở việc khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử cách mạng. Giáo trình tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện khi đánh giá sự kiện. Nguyên tắc kết hợp lý luận với thực tiễn được quán triệt xuyên suốt. Giáo trình cũng áp dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể, phân tích sự kiện trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

3.2. Phương pháp phân tích sự kiện lịch sử Đảng

Phương pháp phân tích sự kiện lịch sử Đảng trong giáo trình lần 1 đa dạng và toàn diện. Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các giai đoạn lịch sử khác nhau. Phương pháp phân tích tổng hợp giúp đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa. Phương pháp nghiên cứu trường hợp được áp dụng cho từng sự kiện cụ thể. Giáo trình sử dụng phương pháp thống kê để làm rõ quy mô, mức độ của các phong trào cách mạng. Phương pháp phỏng vấn và thu thập tư liệu bổ sung nguồn tài liệu chính thức. Phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng để hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng qua văn kiện.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng giáo trình lịch sử Đảng lần 1

Giáo trình lịch sử Đảng lần 1 có ý nghĩa to lớn trong đào tạo và nghiên cứu. Giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống về quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đây là công cụ quan trọng giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Giáo trình giúp người học hiểu rõ con đường đi lên của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung giáo trình phục vụ công tác đào tạo cán bộ, đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng. Giáo trình là tài liệu tham khảo quý giá cho nghiên cứu khoa học lịch sử. Ứng dụng giáo trình trong giảng dạy giúp sinh viên nắm vững bản chất cách mạng của Đảng. Giáo trình cũng phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng trong toàn xã hội. Kiến thức từ giáo trình giúp người học vận dụng vào thực tiễn công tác và học tập.

4.1. Ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng

Giáo trình lịch sử Đảng lần 1 đóng vai trò quan trọng trong giáo dục truyền thống cách mạng. Giáo trình giúp thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc về quá trình đấu tranh gian khổ, hy sinh của nhân dân. Qua giáo trình, người học nhận thức được vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi thắng lợi. Truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc được khắc họa rõ nét. Giáo trình giáo dục lòng biết ơn đối với các thế hệ cha anh đã hy sinh vì độc lập tự do. Tinh thần đoàn kết, ý chí cách mạng được truyền tải qua từng trang giáo trình. Giáo dục truyền thống cách mạng góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

4.2. Ứng dụng trong đào tạo và nghiên cứu

Giáo trình lịch sử Đảng lần 1 được ứng dụng rộng rãi trong đào tạo và nghiên cứu. Trong đào tạo, giáo trình là tài liệu chính thức giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Giáo trình phục vụ công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Trong nghiên cứu, giáo trình là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các công trình khoa học. Giáo trình cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử phong phú cho việc biên soạn các công trình chuyên khảo. Ứng dụng giáo trình trong giảng dạy đòi hỏi phương pháp sư phạm phù hợp. Giáo trình cũng được sử dụng trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức lịch sử Đảng trong xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giáo trình lịch sử đảng cộng sản việt nam lần 1 he khong chuyen

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghị bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình phùng (1885-1895). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913.

Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc. 13 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Đầu thế kỷ XX, khi giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời, nhưng hệ tư tưởng tư sản đã ảnh hưởng đến Việt Nam và được sử dụng làm vũ khí giành độc lập với hai xu hướng bạo động và cải cách. Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật.

Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908). Chủ trương dựa vào Nhật để chống Pháp không thành, ông về Xiêm để chờ thời. Giữa lúc đó Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành công.

Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. Ở Bắc kỳ có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông kinh nghĩa thục Hà Nội. Ở Trung kỳ có cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào đấu tranh chống thuế (1908). Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc nên chỉ sau một thời kỳ phát triển bồng bột đã bị kẻ thù dập tắt.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất hệ tư tưởng tư sản tiếp tục ảnh hưởng vào Việt Nam. Mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, thế lực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã hăng hái bước lên vũ đài chính trị với một phong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn, thu hút đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú. - Phong trào quốc gia cải lương tư sản (1919-1923) của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên diễn ra với những hoạt động tiêu biểu: mở cuộc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia. Về tổ chức, năm 1923 xuất hiện Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn.

Họ đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường đầu hàng thoả hiệp. 14 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến - Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925-1926) của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới.

Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản như Nam Đồng thư xã, (Hà Nội), Cường học Thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như Chuông rạn (La Cloche fêléet), Người nhà quê (Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam). Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng với phong trào đấu tranh chính trị, tiểu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hoá tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên càng về sau, cùng sự thay đổi của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh.

Có bộ phận di sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (như Nam Đồng thư xã), có bộ phận chuyển dần sang quĩ đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam). - Phong trào cách mạng quốc gia tư sản (1927-1930) gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng (25-12-1927). Cội nguồn Đảng này là Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam, tập hợp tư sản, tiểu tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp.

Về tư tưởng, Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính trị, Đảng chủ trương đánh đuổi đế quốc, xoá bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, đảng chủ trương xây dựng các cấp từ trung ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất. Ngày 9-2-1929 một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát trùm mộ phu Ba-danh (Bazin) tại Hà Hội.

Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào yêu nước. Việt Nam Quốc dân đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị động các lãnh tụ của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng “không thành công cũng thành nhân”. Ngày 9-2-1930 cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa.

Ở một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương … cũng có những hoạt động phối hợp. Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa được chuẩn bị cho đáo, lại chưa có thời cơ, nên nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong một biển máu. Các lãnh tụ của 15 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn chiến sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình.

Trước khi bước lên đoạn đầu đài, họ hô vang khẩu hiệu "Việt Nam vạn tuế". Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam cuối cùng đều thất bại do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam 1. Nguyễn Ái Quốc xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản Sinh ra và lớn lên khi đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do, ngày 5- 6- 1911 Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Sau khi đến nhiều châu lục và quốc gia trên thế giới, kết hợp tìm hiểu lý luận với khảo sát thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc rút ra một kết luận quan trọng: đế quốc thực dân ở đâu cũng độc ác và là kẻ thù của các dân tộc, còn nhân dân lao động ở đâu cũng đói khổ và đều là bạn của nhân dân Việt Nam. Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Nguyễn Ái Quốc từ Luân Đôn trở lại Paris, tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6-1919, tại Hội nghị các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp ở Vécxây (Versailles), Tổng thống Mỹ Uynxơn tuyên bố bảo đảm quyền dân tộc tự quyết cho các nước nhược tiểu. Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm tám điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Những yêu sách đó không được Hội nghị đáp ứng, nhưng sự kiện này đã tạo nên tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế và Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất của đế quốc thực dân: “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn”1. Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lênin đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo) số ra ngày 16 và 17-7-1920. Những luận điểm của V.Lênin đã chỉ ra phương hướng giải phóng các dân tộc thuộc địa, giúp Nguyễn Ái Quốc xác định con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản.

Sau này, Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải 1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 16 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến là chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ III.

Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”1. Tại Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920) họp ở thành phố Tua (Tour), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và tiếp đó, tham gia thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản - tức Đảng Cộng sản Pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ