Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác dân vận từ năm 1991 đến năm 2008" do nghiên cứu sinh Bùi Thị Hồng Thúy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mã số 62 22 03 15, bảo vệ năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Đăng Tri).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dân vận là một trong những phương thức và nội dung hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, yêu cầu phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác dân vận.

Về mặt thực tiễn địa phương, tỉnh Hà Tây được tái lập từ ngày 01/10/1991 (sau khi chia tách tỉnh Hà Sơn Bình và tiếp nhận lại 6 huyện, thị từ Hà Nội) và tồn tại đến ngày 01/08/2008 trước khi sáp nhập hoàn toàn vào Thủ đô Hà Nội theo chủ trương mở rộng địa giới hành chính. Trong gần hai thập kỷ này, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị lãnh đạo công tác quần chúng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Mặc dù địa phương đạt được một số thành tựu, song quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa nhanh cũng bộc lộ nhiều tồn tại: tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng tiềm năng, thu nhập bình quân đầu người chưa cao, tình trạng đơn thư khiếu kiện phức tạp, các điểm nóng xã hội chậm được giải quyết và việc giải phóng mặt bằng các cụm công nghiệp, khu đô thị còn gặp nhiều vướng mắc. Những vấn đề này gắn liền với chất lượng lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây đối với công tác dân vận trong suốt giai đoạn lịch sử 1991–2008. Việc tổng kết chặng đường này có ý nghĩa quan trọng nhằm làm rõ bức tranh lịch sử Đảng bộ địa phương và đúc rút bài học kinh nghiệm phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội sau khi hợp nhất.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong việc vận dụng các chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng về công tác dân vận vào thực tiễn địa phương; từ đó đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc rút các bài học kinh nghiệm phục vụ yêu cầu thực tiễn.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Sưu tầm, tập hợp và hệ thống hóa các nguồn tư liệu liên quan đến công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Hà Tây giai đoạn 1991–2008.
  2. Phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến sự hình thành chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác dân vận từ năm 1991 đến năm 2008.
  3. Trình bày và tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác dân vận qua hai giai đoạn: 1991–2000 và 2001–2008.
  4. Đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế cùng nguyên nhân; trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác dân vận của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, chủ trương và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2008.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Tỉnh ủy Hà Tây về công tác dân vận và các biện pháp chỉ đạo hệ thống chính trị (cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân) triển khai thực hiện.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Hà Tây giai đoạn 1991–2008 (gồm 14 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố trực thuộc tỉnh), nay thuộc địa giới hành chính thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/1991 (thời điểm tái lập tỉnh Hà Tây) đến tháng 08/2008 (thời điểm hợp nhất tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội).
Tiêu chí Nội dung xác định trong luận án
Cơ quan đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Mã số: 62 22 03 15)
Khoảng thời gian khảo sát 1991 – 2008 (17 năm)
Địa bàn khảo sát Tỉnh Hà Tây cũ (14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố; 324 xã, phường, thị trấn)
Phương cận tiếp cận Lịch sử chuyên ngành kết hợp phương pháp lôgic

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân tích theo hai nhóm công trình chính:

Nhóm công trình nghiên cứu về công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tác giả đã hệ thống hóa các ấn phẩm lý luận, tổng kết lịch sử của Ban Dân vận Trung ương và các nhà nghiên cứu:

  • Các công trình lịch sử và tổng kết của Ban Dân vận Trung ương: Sơ thảo lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-1996) (NXB Chính trị Quốc gia, 1999); Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) (NXB Chính trị Quốc gia, 2015); Công tác dân vận của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (NXB Chính trị Quốc gia, 2003); kỷ yếu hội thảo 75 năm công tác dân vận của Đảng một số vấn đề lý luận và thực tiễn (NXB Chính trị Quốc gia, 2006).
  • Tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Tuyển tập Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận (NXB Chính trị Quốc gia, 2014); các ấn phẩm của nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: Về công tác vận động quần chúng hiện nay (1986), Về công tác vận động quần chúng (1987), Đổi mới công tác quần chúng (1991); nguyên Trưởng ban Dân vận Trung ương Vũ Oanh với Tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân (1990), Đổi mới công tác dân vận của Đảng (1996); tác phẩm Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười (1995).
  • Các công trình chuyên khảo lý luận và nghiệp vụ: Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới do Hà Thị Khiết chủ biên cùng các nhà khoa học GS.TS Tô Duy Hợp, GS.TS Hoàng Chí Bảo, GS.TS Nguyễn Đình Tấn, PGS.TS Võ Thị Mai (2015); Làm tốt công tác quần chúng trong tình hình mới – kinh nghiệm Trung Quốc, kinh nghiệm Việt Nam do Phùng Hữu Phú biên soạn (2012); Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới của Vũ Ngọc Am và Nguyễn Thùy Linh (2013); Một số vấn đề về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Thế Trung (2015); Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước trong thời kỳ mới do Nguyễn Tiến Thịnh chủ biên (2005).
  • Các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay của Trần Đình Huỳnh và cộng sự (2013); Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ và thời kỳ đổi mới của Nguyễn Quang Thứ và Lê Trung Kiên (2010); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác dân vận trong thời kỳ mới do Nguyễn Văn Hùng biên soạn (2005).
  • Các nghiên cứu chuyên sâu theo lĩnh vực, đối tượng, địa bàn và luận án tiến sĩ liên quan: Đẩy mạnh công tác dân vận tham gia xây dựng nền tảng chính trị của quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới (Tổng cục Chính trị, 2000); luận án tiến sĩ của Vũ Đình Tấn (2001); luận án tiến sĩ của Lê Kim Việt về vận động nông dân (2002); luận án tiến sĩ của Đặng Mạnh Trung về vận động đồng bào Công giáo miền Đông Nam Bộ (2011); luận án tiến sĩ của Đồng Ngọc Châu (2011); luận án tiến sĩ của Đặng Trí Thủ về vận động đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ (2012); luận án tiến sĩ của Phạm Duy Hoàng về tư tưởng dân vận bảo vệ an ninh tổ quốc (2015); sách chuyên khảo về trí thức của Nguyễn Văn Khánh (2012); sách về Tây Nguyên do Nguyễn Thế Tư chủ biên (2014); các công trình về dân tộc của Nguyễn Hữu Hải (1996), về thanh niên của Đặng Quang Vinh (2012), về công nhân của Nguyễn Viết Vượng (2010); cùng các bài viết trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị của các tác giả Hoàng Trang (2004), Nguyễn Thị Kim Hoa (2005), Hoàng Mạnh Đoàn (2006), Mạch Quang Thắng (2006), Bùi Văn Huấn (2006), Tòng Thị Phóng (2006), Trương Thị Thông (2009), Hoàng Chí Bảo (2013), Phạm Huy Tập (2013)...

Nhóm công trình nghiên cứu về công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây

  • Bộ sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây (4 tập, từ năm 1926 đến tháng 7/2008) do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây biên soạn và xuất bản. Trong đó, tập 4 trình bày giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 2008, phản ánh các chủ trương của Đảng bộ qua các kỳ đại hội.
  • Các công trình của các đoàn thể cấp tỉnh: Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân tỉnh Hà Tây (1929-2000) (Hội Nông dân tỉnh Hà Tây, 2001); Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Hà Tây (Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tây, 2002).
  • Các công trình học vị trước đó: Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Hồng Thúy (2008) về "Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác dân vận từ năm 1996 đến năm 2005"; luận văn thạc sĩ của Lê Ngọc Doan (2011) về "Công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2008".

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trên cung cấp cơ sở lý luận và bức tranh khái quát về công tác dân vận của Đảng trên phạm vi cả nước hoặc từng giai tầng, từng giai đoạn hẹp tại Hà Tây. Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác dân vận trong trọn vẹn khung thời gian từ khi tái lập tỉnh (1991) đến khi sáp nhập vào Hà Nội (2008). Luận án tập trung khai thác tư liệu gốc tại các trung tâm lưu trữ, tái hiện tiến trình lịch sử, phân tích mối quan hệ giữa chủ trương và kết quả thực hiện của các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Hệ thống lý luận nền tảng: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quần chúng nhân dân và công tác dân vận. Luận án quán triệt định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài báo "Dân vận" (ngày 15/10/1949 trên báo Sự thật): dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người dân nào, tạo thành lực lượng toàn dân để thực hiện các nhiệm vụ được giao.
  • Hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng: Các văn kiện nền tảng được sử dụng làm khung đối chiếu gồm: Nghị quyết số 8B-NQ/TW (ngày 27/03/1990 của Hội nghị Trung ương 8 khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội VII, 1991); Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII (1992); Văn kiện Đại hội VIII (1996); Chỉ thị số 30-CT/TW (ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị số 18/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân vận của chính quyền.
  • Khái niệm công tác dân vận: Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức của toàn bộ hệ thống chính trị nhằm vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên nguồn sử liệu:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, tuần tự tiến trình ban hành chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây theo hai giai đoạn phát triển (1991–2000 và 2001–2008) gắn liền với bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
  • Phương pháp lôgic: Khái quát các sự kiện, tìm ra bản chất, khuynh hướng vận động, mối liên hệ nhân quả giữa các quyết sách lãnh đạo của Tỉnh ủy với sự chuyển biến của phong trào quần chúng; từ đó rút ra các nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.
  • Các phương pháp hỗ trợ: Phương pháp phân tích văn bản tư liệu, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh lịch sử và kỹ thuật thống kê tư liệu để xử lý các số liệu hành chính, dân cư, tôn giáo, làng nghề.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Nguồn tài liệu kinh điển: Các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
  2. Nguồn văn kiện lưu trữ gốc: Các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, báo cáo sơ kết, tổng kết của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Dân vận Tỉnh ủy Hà Tây giai đoạn 1991–2008 lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Thành ủy Hà Nội và các cơ quan, sở, ban, ngành địa phương.
  3. Nguồn tư liệu xuất bản: Văn kiện Đảng toàn quốc, văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây (Đại hội VII, VIII, IX, X), các tài liệu lịch sử địa phương, số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Hà Tây và các tạp chí chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc của luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương nội dung, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Nội dung cụ thể của các chương được trình bày như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này dành 18 trang (từ trang 7 đến trang 25) để tổng thuật và đánh giá chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước về công tác dân vận của Đảng và công tác dân vận tại địa bàn Hà Tây.

  • Tác giả phân chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm chính: nhóm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác dân vận của Đảng trên phạm vi toàn quốc và nhóm các công trình lịch sử Đảng bộ, lịch sử các đoàn thể tại tỉnh Hà Tây.
  • Luận giải rõ những nội dung kế thừa về khung lý thuyết, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu; đồng thời xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận án tập trung giải quyết nhằm thiết lập tính mới về mặt khoa học lịch sử.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2000

Chương này khảo sát chặng đường 10 năm đầu sau khi tái lập tỉnh, phân tích các yếu tố tác động và quá trình ban hành chủ trương, tổ chức thực hiện:

1. Yếu tố tác động và đặc điểm địa bàn Hà Tây

Luận án trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội tác động trực tiếp đến công tác dân vận của tỉnh:

Đặc điểm Dữ liệu cụ thể trong giai đoạn nghiên cứu
Diện tích tự nhiên 2.192,96 km² (trong đó đồng bằng chiếm 66,4%, đồi núi chiếm 33,6%)
Dân số Khoảng 2,5 triệu người; đa số là người Kinh
Đồng bào dân tộc thiểu số Dân tộc Mường và Dao có gần 3 vạn người (5.925 hộ), cư trú tập trung tại 9 xã thuộc 4 huyện: Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức; các dân tộc Tày, Thái, Nùng chiếm số lượng nhỏ
Tôn giáo 4 tôn giáo chính (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cao đài) với gần 30 vạn tín đồ (chiếm 12% dân số toàn tỉnh)
Làng nghề thủ công Trên 100 nghề truyền thống; 1.150 làng có nghề (chiếm 80% tổng số làng), trong đó 210 làng nghề đã được tỉnh công nhận chính thức
Đơn vị hành chính 14 đơn vị (thành phố Hà Đông, thành phố Sơn Tây và 12 huyện: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Đan Phượng, Hoài Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức) với 324 xã, phường, thị trấn

2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây (1991–2000)

  • Chủ trương giai đoạn đầu tái lập: Ngay sau tháng 10/1991, Tỉnh ủy lâm thời tập trung ổn định tư tưởng cán bộ, nhân dân trước tác động của sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.
  • Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (tháng 3/1992): Đánh giá hoạt động đoàn thể còn lúng túng, nhiều cơ sở yếu kém, tỷ lệ thanh niên vào Đoàn và Đảng giảm; đề ra chủ trương đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở, gắn quyền lợi thiết thực của hội viên với nghĩa vụ công dân.
  • Chỉ thị số 05-CT/TU của Tỉnh ủy: Tăng cường công tác tôn giáo, thành lập bộ phận chuyên trách về tôn giáo ở cấp tỉnh và phân công thường trực UBND cấp tỉnh, huyện phụ trách.
  • Nghị quyết số 03-NQ/TU (ngày 14/10/1992) của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 4: Xác định 3 quan điểm chỉ đạo và 5 biện pháp đổi mới công tác vận động quần chúng, củng cố mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân.
  • Nghị quyết số 07-NQ/TU (ngày 08/04/1993) về công tác thanh niên và Chỉ thị số 12-CT/TU (ngày 03/09/1993) về công tác vận động phụ nữ: Chỉ đạo củng cố cơ sở đoàn hội yếu kém, giải quyết việc làm, đào tạo và bố trí cán bộ nữ, cán bộ trẻ.
  • Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (năm 1996): Chủ trương đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng (nhóm, tổ, câu lạc bộ, hội ngành nghề, từ thiện); triển khai phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; bồi dưỡng, phân công cụ thể nhiệm vụ làm công tác dân vận cho từng đảng viên.

3. Quá trình chỉ đạo thực hiện

  • Đối với cấp ủy Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Kiện toàn bộ máy Ban Dân vận cấp tỉnh và huyện theo Hướng dẫn số 537-TC/TW và Hướng dẫn số 01/HDLB-TC-DV-TW; thành lập khối dân vận ở cấp xã, phường; chỉ đạo Mặt trận và các đoàn thể phát động các phong trào thi đua lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chăm lo gia đình chính sách.
  • Đối với các cấp chính quyền: Triển khai thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị 18/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; bước đầu thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; sửa đổi lề lối làm việc, cải cách hành chính, tổ chức tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm giảm thiểu phiền hà cho nhân dân.

Chương 3: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây đối với công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2008

Chương này phản ánh giai đoạn Hà Tây đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế với các nội dung trọng tâm:

  • Yêu cầu mới và chủ trương: Bối cảnh triển khai các dự án quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, chuyển đổi đất nông nghiệp phát sinh nhiều mâu thuẫn về giải phóng mặt bằng, quyền lợi nông dân và trật tự an ninh nông thôn. Tỉnh ủy ban hành các chủ trương mới nhằm nâng cao vai trò của công tác dân vận trong phát triển kinh tế, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và mở rộng dân chủ trực tiếp tại cơ sở.
  • Chỉ đạo đối với hệ thống chính trị: Tăng cường sự phối hợp giữa Ban Dân vận Tỉnh ủy với các cơ quan nhà nước; đổi mới hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; nâng cao chất lượng phong trào thi đua "Dân vận khéo".
  • Chỉ đạo đối với các cấp chính quyền: Gắn công tác dân vận với hoạt động điều hành của chính quyền các cấp; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong đối thoại trực tiếp với công dân, giải quyết các vụ việc khiếu kiện đông người và các điểm nóng phức tạp trên địa bàn.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương này tổng kết toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1991 đến năm 2008:

  • Ưu điểm: Đảng bộ đã kịp thời thể chế hóa các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương vào điều kiện cụ thể của Hà Tây; bộ máy làm công tác dân vận được kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở; Mặt trận và các đoàn thể phát huy vai trò tập hợp nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Việc nắm bắt diễn biến tư tưởng nhân dân ở một số thời điểm chưa kịp thời; công tác dân vận chính quyền có nơi còn hình thức; việc xử lý các điểm nóng khiếu kiện về đất đai còn lúng túng; đội ngũ cán bộ dân vận cơ sở chưa đồng đều về năng lực. Nguyên nhân xuất phát từ sự nhận thức chưa đầy đủ của một số cấp ủy, chính quyền và áp lực của quá trình đô thị hóa nhanh.
  • Bài học kinh nghiệm: Luận án đúc rút các nhóm kinh nghiệm cụ thể gồm: (1) Kinh nghiệm trong việc quán triệt quan điểm của Đảng và xác định chủ trương lãnh đạo sát hợp với đặc điểm địa phương; (2) Kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện, kết hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận của Đảng với dân vận của chính quyền và hoạt động của các đoàn thể; (3) Kinh nghiệm trong giải quyết hài hòa lợi ích của nhân dân và xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Hệ thống hóa toàn bộ các văn kiện, tư liệu lịch sử phản ánh quá trình hình thành, phát triển chủ trương và sự chỉ đạo công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong suốt 17 năm (1991–2008).
  • Làm sáng tỏ quy luật vận dụng đường lối dân vận của Đảng vào một địa bàn đồng bằng Bắc Bộ có truyền thống văn hóa - lịch sử lâu đời, cơ cấu làng nghề đa dạng, có vùng đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo đan xen.
  • Cung cấp luận cứ lịch sử khẳng định vai trò của công tác dân vận đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây trước khi hợp nhất về Hà Nội.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đưa ra hệ thống nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những tồn tại trong công tác vận động quần chúng tại địa phương qua các thời kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo chính quyền cơ sở, giải quyết tranh chấp đất đai, giải phóng mặt bằng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
  • Cung cấp nguồn tư liệu chuyên khảo phục vụ việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội và lịch sử địa phương tỉnh Hà Tây giai đoạn 1991–2008.

Đề xuất và kiến nghị từ kết quả nghiên cứu

Luận án nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác dân vận, tăng cường hiệu quả dân vận của cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác quần chúng và chủ động đối thoại, giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của nhân dân.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ khi tái lập tỉnh Hà Tây năm 1991 đến thời điểm sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội ngày 01/08/2008; chưa nghiên cứu sâu tiến trình công tác dân vận trên địa bàn này sau khi đã hòa nhập vào tổ chức hành chính của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ sau năm 2008.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Nghiên cứu so sánh sự chuyển biến trong phương thức lãnh đạo công tác dân vận trên địa bàn Hà Tây trước và sau thời điểm hợp nhất vào thành phố Hà Nội.
    2. Đi sâu khảo sát chuyên đề về công tác dân vận trong bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các vùng đô thị hóa mở rộng của Thủ đô.
    3. Đánh giá tác động lâu dài của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ dân vận: Giúp các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội của thành phố Hà Nội tham khảo các bài học kinh nghiệm xử lý điểm nóng, quản lý đất đai làng nghề và thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng, Chính trị học và Lịch sử địa phương Hà Nội.
  • Các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng về tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp cư dân nông thôn đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong giai đoạn lịch sử nào?

Luận án khảo sát từ ngày 01/10/1991 (thời điểm tái lập tỉnh Hà Tây, tách ra từ tỉnh Hà Sơn Bình) đến ngày 01/08/2008 (thời điểm Hà Tây chính thức sáp nhập vào thành phố Hà Nội theo Nghị quyết của Quốc hội).

2. Địa bàn tỉnh Hà Tây trong thời kỳ 1991–2008 có những đặc điểm dân cư, tôn giáo và làng nghề nào đáng chú ý?

Theo số liệu trong luận án:

  • Diện tích tự nhiên: 2.192,96 km²; dân số khoảng 2,5 triệu người.
  • Dân tộc thiểu số: Đồng bào Mường và Dao có gần 3 vạn người (5.925 hộ), tập trung tại 9 xã thuộc 4 huyện (Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức).
  • Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Cao đài) với gần 30 vạn tín đồ, chiếm 12% dân số toàn tỉnh.
  • Làng nghề: Có 1.150 làng có nghề (chiếm 80% số làng), trong đó 210 làng nghề được tỉnh công nhận chính thức với hơn 100 nghề truyền thống.

3. Những văn kiện chỉ đạo trọng tâm của Tỉnh ủy Hà Tây về công tác dân vận trong giai đoạn 1991–2000 gồm những văn bản nào?

Các văn bản chỉ đạo trực tiếp được nêu trong luận án gồm:

  • Chỉ thị số 05-CT/TU về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay.
  • Nghị quyết số 03-NQ/TU (ngày 14/10/1992) của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ tư về đổi mới và tăng cường công tác vận động quần chúng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
  • Nghị quyết số 07-NQ/TU (ngày 08/04/1993) về công tác thanh niên.
  • Chỉ thị số 12-CT/TU (ngày 03/09/1993) về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.
  • Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ VII (1992) và lần thứ VIII (1996).

4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?

Luận án tiếp cận dưới góc độ lịch sử chuyên ngành, sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, tác giả kết hợp các phương pháp phân tích văn bản, tổng hợp tư liệu lưu trữ, so sánh lịch sử và kỹ thuật thống kê sử liệu để xử lý dữ liệu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Hồng Thúy đã phục dựng có hệ thống và khách quan tiến trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 1991–2008. Công trình đã làm rõ các yếu tố tác động, quá trình cụ thể hóa đường lối của Trung ương vào thực tiễn địa bàn có đặc thù về làng nghề, tôn giáo và dân tộc. Thông qua việc phân tích toàn diện thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác dân vận và xây dựng Đảng bộ Thủ đô Hà Nội.