CHƯƠNG 1. THUYẾT TRÌNH CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. Thuyết trình Thuyết trình là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở mức độ phức tạp, có sự chuẩn bị kỹ càng nhằm đạt được mục tiêu, hiệu quả ảnh hưởng, tác động, lôi cuốn bằng lời nói đối với người nghe. Trong xã hội tri thức, thuyết trình thường diễn ra trong môi trường công việc và học tập.
Khi đó, sinh viên sẽ cố gắng trình bày vấn đề một cách thuyết phục nhằm chuyển tải một thông điệp trọn vẹn nhằm tạo được tác động đến người nghe và vì vậy có thể tăng cường uy tín cũng như khả năng ảnh hưởng đến người khác. Có thể nói rằng, sự thành công của mỗi người trong xã hội hiện nay, là sự kết hợp giữa chuyên môn và các kỹ năng mềm, trong đó, thuyết trình là một dạng kỹ năng mềm quan trọng. Và vì là kỹ năng nên mỗi cá nhân cần phải nắm chắc kiến thức và rèn luyện thường xuyên nếu muốn đạt được thành công. Luyện tập, thực hành thuyết trình thường xuyên, mỗi cá nhân, mỗi chính trị gia đều có thể thành thạo các kĩ năng thuyết trình và nâng khả năng giao tiếp thành kĩ năng thuyết trình các môn lý luận chính trị khoa học và lôi cuốn.
Các bài phát biểu trên lốp học sẽ là cơ hội tôt, là khởi đầu cho việc thực tập, rèn luyện kĩ năng thuyết trình và thuyết trình các môn lý luận chính trị. Trong một số khảo sát xã hội học gần đây, kỹ năng giao tiếp - thuyết trình được xếp hàng đầu trong chất lượng nhân sự đối với những lao động có trình độ đại học trở lên. Tầm quan trọng của kĩ năng này được đề cao trong rất nhiều lĩnh vực - từ giáo viên đến kỹ sư, từ nhà khoa học tới nhân viên chứng khoán, từ kế toán đến kiến trúc sư, từ y tá, y sĩ tới các bác sĩ chuyên khoa, từ các giảng viên thường đến các giảng viên cao cấp. Kể cả những ngành mang tính kỹ thuật chuyên sâu như kĩ sư dân dụng hay chế tạo máy, các nhà quản lí vẫn đặt kỹ năng giao tiếp cao hơn kiến thức chuyên môn khi tuyển dụng hay cất nhắc một ai đó.
Có ba điểm khác biệt chính giữa giao tiếp và thuyết trình mà sinh viên cần ghi nhớ, đó là: - Thuyết trình có cấu trúc chặt chẽ hơn: thuyết trình thường có giới hạn thời gian. Trong hầu hết các trường hợp, người nghe không được phép ngắt giữa chừng hay đưa câu hỏi trong thời gian thuyết trình. Vì thế, sinh viên cần phải nhấn mạnh vào những 10 điều mà người nghe có thể rất quan tâm, cũng như trả lời được hết các câu hỏi có thể có. Do đó, thuyết trình đòi hỏi phải được lập kế hoạch và chuẩn bị tỉ mỉ hơn.
- Thuyết trình luôn yêu cầu ngôn ngữ chính thống: tiếng lóng, tiếng địa phương, nói sai ngữ pháp, sai về âm thanh của từ, dùng từ ngữ không chuẩn sẽ không có chỗ trong bài thuyết trình. Cho dù những thói quen, sai sót này thường xuyên gặp trong ngôn ngữ thường ngày, người nghe cũng sẽ không dễ dàng chấp nhận những sinh viên không biết chọn lọc và không biết tôn trọng ngôn ngữ thuyết trình của mình. - Thuyết trình yêu cầu phương pháp trình bày khoa học logic: trong giao tiếp hằng ngày, người nói có thể làm rõ ý mình bằng cách nói như “theo ý tôi”, “tôi muốn nói là”, hoặc bằng các hô ngữ như “à, ò, ừm”, đối khi là các động tác “khua chân khua tay”. Trong thuyết trình thì không như vậy, sinh viên phải điều chỉnh giọng nói của mình khi hướng tới khán giả.
Họ cũng phải chú ý đến cử chỉ, tránh các cử chỉ gây rối hay khoa tay quá mức, dễ làm mất tập trung cho người nghe. Theo Đoàn Minh Tuấn & Nguyễn Thị Quế Anh (2017), căn cứ vào đối tượng, mục tiêu hướng tới của thuyết trình, có thể chia thuyết trình thành hai dạng chính: Thuyết trình cung cấp thông tin: chia sẻ, cung cấp, truyền tải thông tin mới (có thể là thông tin bổ sung cho các thông tin cũ, cũng có thể là thông tin hoàn toàn mới) cho người nghe. Ví dụ: các giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị Mác - Lênin sẽ cung cấp cho người học về lịch sử hình thành và phát triển của môn học, đối tượng & phương pháp nghiên cứu của môn học; về các quy luật kinh tế thị trường trong các giai đoạn khác nhau của chủ nghĩa tư bản; về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là các nội dung hoàn toàn mới, hoặc hệ thống và cắt nghĩa các nội dung cũ đã được học ở phổ thông nhưng được phân tích, mổ xẻ trên phương diện mới, theo các chiều cạnh mới một cách hệ thống, có sức thuyết phục cho người học.
Thuyết trình thuyết phục: Đưa ra các lý lẽ làm cho người nghe chấp nhận hoặc hành động theo ý kiến của người nói. Ví dụ: khi tổ chức thuyết trình về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, sinh viên cần phải tìm kiếm, chọn lọc các minh chứng, luận điểm, luận cứ về vai trò dẫn dắt nền kinh tế, vai trò hỗ trợ an sinh xã hội, vai trò thúc đẩy đầu tư, vai trò phát triển lực lượng sản xuất, vai trò hoàn thiện quan hệ sản xuất của kinh tế 11 Nhà nước để thuyết phục các nhớm thuyết trình khác hoặc thuyết phục giảng viên ủng hộ quan điểm, nhận định của nhớm thuyết trình. Vai trò và đặc điểm các môn lý luận chính trị Các môn lý luận chính trị được giảng dạy trong các trường đại học hiện nay bao gồm: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Việc giảng dạy các môn lý luận chính trị góp phần: Thứ nhất, phát triển con người toàn diện.
Cùng với việc học tập kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, sinh viên phải được trang bị hệ thống tri thức lý luận chính trị đúng đắn. Bởi kiến thức lý luận chính là kim chỉ nam phương hướng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, hướng các em đến hành động thực tiễn, nhân văn, tiến bộ, khoa học, hun đúc cho sinh viên lòng yêu nước chân chính, có tinh thần kiên định, vững vàng, không hoang mang, dao động trước những biến động phức tạp của bối cảnh hội nhập quốc tế. Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Học tập và quán triệt nội dung các môn lý luận chính trị giúp sinh viên có trình độ và năng lực tư duy lý luận khoa học, có quan điểm đúng đắn, lập trường cách mạng vững chắc và phương pháp luận khoa học, là điều kiện để sinh viên chủ động, tự tin vươn lên làm chủ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Thứ ba, giúp sinh viên có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Như vậy, sinh viên là đội ngũ tri thức không chỉ cần kiến thức chuyên môn vững vàng mà cần phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, kỹ năng và lý tưởng sống cao đẹp. Các môn lý luận chính trị góp phần trang bị thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận khoa học đồng thời bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên. Với vai trò như trên, các môn lý luận chính trị có một số đặc điểm chủ yếu như sau: – Tính trừu tượng, khái quát và liên hệ, gắn bó mật thiết với thực tiễn xã hội.
Lý luận chính trị là hệ thống tri thức được rút ra từ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học và được khái quát hóa bằng các phương pháp khoa học, làm cơ sở lý luận, khoa 12 học cho hoạt động của Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Chính vì vậy, kiến thức của các môn lý luận chính trị thường rất trừu tượng và khái quát ở trình độ rất cao. Mặt khác, lý luận chính trị được khái quát từ thực tiễn chính trị – xã hội, nên về nguồn gốc, bản chất nó gắn bó mật thiết với đời sống chính trị. Chính vì vậy, khi giảng dạy lý luận chính trị, giảng viên phải cụ thể hóa kiến thức lý luận chính trị bằng hiểu biết thực tiễn chính trị, phải đưa thực tiễn chính trị vào nội dung bài giảng, đồng thời phải trình bày, diễn đạt nội dung bài giảng bằng ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu.
Trong vấn đề này, việc học tập, vận dụng phương pháp tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin cho nhân dân Việt Nam của Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng. – Tính khoa học, tính hàn lâm cao. Các môn lý luận chính trị là những khoa học có hàm lượng lý luận cao, cho nên nó rất hàn lâm. Trong số các môn lý luận chính trị có tính hàn lâm cao phải kể đến trước hết là Triết học Mác – Lênin.
Đây là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy, về thế giới tự nhiên và xã hội loài người, là nền tảng thế giới quan, phương pháp luận khoa học của con người. Hệ thống tri thức triết học thường được diễn đạt bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật với tính hàn lâm cao. Đặc điểm này đòi hỏi giảng viên lý luận chính trị không chỉ có trình độ hiểu biết sâu rộng về lý luận chính trị mà còn phải có trình độ, phương pháp tư duy lý luận sắc sảo mới tiếp thu, nắm vững nhuần nhuyễn tri thức lý luận chính trị và truyền đạt nó một cách phổ thông, dễ hiểu cho sinh viên. – Tính đảng, tính chính trị.
Lý luận chính trị bắt nguồn từ thực tiễn chính trị, phản ánh thực tiễn chính trị, phản ánh và bảo vệ lợi ích của các chủ thể chính trị, lấy thực tiễn chính trị làm mục đích phục vụ. Nói khác, nó gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với thực tiễn chính trị, với đường lối, chính sách, pháp luật. Hơn thế, kiến thức lý luận chính trị còn là cơ sở lý luận và là nền tảng tư tưởng của Đảng, là vũ khí tư tưởng, lý luận, chính trị – pháp lý để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và Nhân dân.