Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng hệ thống 2.773 hòn đảo lớn nhỏ, bao bọc vùng biển Đông rộng khoảng 1 triệu km2 thềm lục địa. Trong tiến trình lịch sử dân tộc, giai đoạn 56 năm từ năm 1802 đến năm 1858 dưới sự trị vì của 4 triều vua nhà Nguyễn gồm Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đánh dấu thời kỳ đầu tiên lãnh thổ và lãnh hải nước ta được quy về một mối hoàn chỉnh. Vấn đề an ninh và phòng thủ biển thời kỳ này đứng trước thách thức kép: vừa phải củng cố quyền kiểm soát nội trị trên toàn bộ duyên hải Bắc - Trung - Nam, vừa phải đối phó với nạn cướp biển hoành hành và nguy cơ xâm lược ngày càng hiện hữu từ các cường quốc tư bản phương Tây.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phục dựng và phân tích có hệ thống các chủ trương, thể chế quản lý, phương thức xây dựng lực lượng thủy quân và hệ thống công trình phòng thủ ven biển cùng vùng biển đảo của triều đình Huế. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong không gian duyên hải và các hải đảo thuộc chủ quyền Đại Nam xuyên suốt giai đoạn 1802 - 1858, trước thời điểm thực dân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà. Giá trị học thuật và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc đánh giá toàn diện 100% hệ thống văn bản pháp luật và thiết chế quân sự biển thời Nguyễn, cung cấp nguồn sử liệu chuẩn xác chứng minh tính liên tục trong việc thực thi chủ quyền quốc gia tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời đúc kết bài học giá trị cho chiến lược bảo vệ biển đảo đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết địa chiến lược biển kết hợp học thuyết an ninh quốc gia phong kiến phương Đông để kiến tạo khung phân tích đa tầng. Trong đó, 3 khái niệm cốt lõi được định hình gồm: An ninh - phòng thủ biển (hệ thống giải pháp tổng hòa giữa kiểm soát hải thương, tiễu trừ cướp biển, hỗ trợ hàng hải và ngăn chặn ngoại xâm); Hải cương (không gian biên giới biển bao gồm vùng đệm duyên hải và hải đảo); và Thực thi chủ quyền lịch sử (quá trình xác lập thẩm quyền quản lý hành chính liên tục của Nhà nước). Khung nghiên cứu triển khai mô hình ma trận đánh giá tương tác giữa 3 trụ cột: Thể chế chỉ đạo tối cao (Hoàng đế, Lục bộ, Viện Cơ mật), Lực lượng chuyên trách (thủy quân chính quy, Tấn thủ, dân binh) và Công trình bố phòng thực địa (pháo đài, bảo, tấn, đồn duyên hải).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ cỡ mẫu gồm 5 bộ cổ sử và trước tác điển chế gốc của triều Nguyễn bao gồm Châu bản triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Hoàng Việt luật lệ, Đại Nam nhất thống chí, cùng 12 bộ địa chí, hải trình và hơn 40 công trình khảo cứu chuyên sâu. Phương pháp chọn mẫu theo mục đích lịch đại bao phủ 100% các văn bản chỉ dụ, tấu chương và sự kiện quân sự biển trong suốt 56 năm từ năm 1802 đến năm 1858.

Tác giả kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, tích hợp kỹ thuật phân tích văn bản học sử liệu và đối sánh lịch đại. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối khi khôi phục diện mạo chính sách của vương triều, loại bỏ định kiến lịch sử và làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa nhận thức chiến lược của các vị vua đầu triều với kết quả thực thi thực tế ngoài thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Luận văn xác lập 3 nhóm phát hiện căn bản:

Thứ nhất, triều Nguyễn đã thiết lập bộ máy quản lý biển hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Năm 1822, triều đình chuyển đổi cơ quan Trưởng đà thành lập năm 1802 thành Ty Tào chính, phân chia quyền hạn thành 2 phân vùng Nam tào và Bắc tào với quy mô 9 đoàn vận tải chuyên trách công tác hải vận và thuế thuyền mỗi bên. Tại cửa biển chiến lược Đà Nẵng, Nha Thương bạc hoạt động trong giai đoạn 1822 - 1832 đảm nhiệm kiểm soát tàu thuyền phương Tây trước khi được phân cấp về phủ Thừa Thiên.

Thứ hai, lực lượng thủy quân được tổ chức tinh nhuệ và hiện đại hóa vượt bậc. Nhà Nguyễn kế thừa nền tảng kỹ thuật hàng hải phương Tây từ giai đoạn 1788 - 1789 với sự tham gia của 396 chuyên gia, sĩ quan nước ngoài. Dưới triều Gia Long và Minh Mạng, triều đình đã chế tạo thành công 4 tàu chiến kiểu châu Âu với thời gian hoàn thiện chỉ dưới 3 tháng mỗi chiếc, đồng thời mua sắm và tự đóng các loại thuyền bọc đồng, tàu chạy máy hơi nước tiên tiến.

Thứ ba, quy chế xác lập chủ quyền biển đảo được thể chế hóa định kỳ. Đội Hoàng Sa duy trì biên chế chuẩn 70 suất đinh tuyển chọn từ xã An Vĩnh, luân phiên thực thi nhiệm vụ 6 tháng mỗi năm (từ tháng 2 đến tháng 8), đảm trách việc thu lượm hải vật, đo đạc hải trình, dựng bia và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dưới sự kiêm quản của đội Bắc Hải.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sức mạnh an ninh biển của nhà Nguyễn bắt nguồn từ sự kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống phòng thủ công trình duyên hải và mạng lưới tuần tiễu mặt biển. Triều đình đã xây dựng hàng loạt pháo đài kiên cố tại các cửa biển hiểm yếu như Thuận An, Đà Nẵng, Định Hải, Cần Giờ với trang bị từ 10 đến hơn 30 khẩu đại bác mỗi vị trí. Khi hệ thống hóa qua bảng phân loại vũ khí và biểu đồ phân bổ đồn trú duyên hải 3 miền, dữ liệu minh chứng rõ nét tư duy bố phòng có chiều sâu: kết hợp kinh tế khai hoang lấn biển của Nguyễn Công Trứ với nhiệm vụ an ninh quốc phòng ven bờ.

So sánh với thời Tây Sơn và chúa Nguyễn, triều Nguyễn đạt đỉnh cao về quy chuẩn điển chế và kiểm soát hành chính lãnh hải. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách kiểm soát ngoại thương quá khắt khe sau năm 1832 đã làm suy giảm cơ hội tiếp cận kỹ thuật công nghiệp mới, tạo lỗ hổng lớn khi đương đầu với hạm đội tàu chiến hỏa lực mạnh của phương Tây vào năm 1858.

Đề xuất và khuyến nghị

Kế thừa các bài học lịch sử từ luận văn, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

Thứ nhất, số hóa và lập cơ sở dữ liệu chuẩn hóa 100% tư liệu hải đồ, châu bản, địa bạ biển đảo thời Nguyễn trong giai đoạn 2026 - 2028. Cơ quan thực hiện: Viện Sử học chủ trì, phối hợp với Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, hướng tới công bố quốc tế ít nhất 20 ấn phẩm học thuật bằng nhiều ngôn ngữ.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng phòng thủ bờ biển đa tầng, tăng cường ngân sách đầu tư từ 30% đến 40% cho các công trình lưỡng dụng tại 28 tỉnh, thành phố ven biển trước năm 2030. Cơ quan thực hiện: Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Xây dựng.

Thứ ba, chuẩn hóa mô hình dân binh biển kết hợp lực lượng tuần duyên chuyên trách, duy trì tần suất tuần tra kiểm soát ngư trường 12 tháng liên tục hàng năm, đặt mục tiêu giảm thiểu trên 50% các hành vi xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế trong giai đoạn 2026 - 2030. Cơ quan thực hiện: Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Thứ tư, tích hợp 100% nội dung nghiên cứu lịch sử an ninh biển thời Nguyễn vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học ngành Lịch sử, Luật Quốc tế và Quan hệ Quốc tế trong thời hạn 2 năm từ 2026 đến 2027. Cơ quan thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các Đại học Quốc gia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chiến lược an ninh và quốc phòng: Cung cấp cơ sở thực tiễn về mô hình phòng thủ bờ biển, nghệ thuật kết hợp thủy quân và đồn lũy trên 3.260 km bờ biển nhằm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển hiện đại.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử: Mang lại hệ thống cứ liệu nguyên bản từ 5 bộ quốc sử triều Nguyễn, phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử quân sự Việt Nam.

Thứ ba, cán bộ ngoại giao và chuyên gia pháp lý quốc tế: Khai thác kho tư liệu lịch sử xác thực về hoạt động liên tục của Đội Hoàng Sa gồm 70 dân đinh để củng cố hồ sơ pháp lý khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên trường quốc tế.

Thứ tư, chuyên gia quản lý di sản và văn hóa quân sự: Ứng dụng nguồn dữ liệu khảo tả về các tấn, bảo, pháo đài cổ vào các dự án trùng tu di tích lịch sử ven biển và phát triển du lịch di sản tại hơn 20 đô thị ven biển Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi: Điểm độc đáo nhất trong chính sách an ninh biển của nhà Nguyễn giai đoạn 1802 - 1858 là gì? Trả lời: Điểm độc đáo nhất là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quản lý hành chính biển và bố phòng quân sự đa tầng. Triều đình không chỉ lập Ty Tào chính năm 1822 để quản lý thuế thuyền mà còn xây dựng pháo đài kiên cố tại hơn 10 cửa biển hiểm yếu, đồng thời kết hợp khai hoang duyên hải với củng cố an ninh biên giới biển.

Hỏi: Đội Hoàng Sa và Bắc Hải vận hành dưới thời Nguyễn với quy mô và trách nhiệm như thế nào? Trả lời: Đội Hoàng Sa duy trì quy mô 70 dân đinh lấy từ xã An Vĩnh, thực thi nhiệm vụ đều đặn từ tháng 2 đến tháng 8 hàng năm trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX. Lực lượng này kiêm quản Đội Bắc Hải, thực hiện thu lượm hóa vật, đo đạc thủy trình, cắm mốc và vẽ bản đồ khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hỏi: Ty Tào chính và Nha Thương bạc giữ vai trò gì trong quản lý hải vận thời kỳ này? Trả lời: Ty Tào chính thành lập năm 1822 chia làm Nam tào và Bắc tào với 18 đoàn vận tải đảm nhiệm toàn bộ công tác vận tải thóc thuế và hải vận quốc gia. Nha Thương bạc tại Đà Nẵng đảm nhận kiểm soát tàu buôn phương Tây giai đoạn 1822 - 1832 trước khi chức năng thu thuế được chuyển giao cho chính quyền địa phương.

Hỏi: Triều đình nhà Nguyễn đã ứng dụng kỹ thuật đóng tàu phương Tây như thế nào? Trả lời: Ngay từ thời Nguyễn Ánh, quân đội đã tiếp thu công nghệ phương Tây với sự hỗ trợ của 396 chuyên gia nước ngoài, đóng thành công 4 tàu chiến kiểu Tây trong thời gian dưới 3 tháng mỗi chiếc. Dưới triều Minh Mạng, triều đình tiếp tục mua và tự đóng các loại thuyền bọc đồng, tàu chạy máy hơi nước đầu thế kỷ XIX.

Hỏi: Nguyên nhân chính khiến hệ thống phòng thủ biển triều Nguyễn không thể ngăn chặn liên quân Pháp năm 1858 là gì? Trả lời: Nguyên nhân cốt lõi là sự chênh lệch lớn về công nghệ quân sự và tư duy tác chiến. Dù sở hữu pháo đài ven biển và hàng ngàn thủy binh, chính sách bế quan tỏa cảng từ thời Minh Mạng đến Tự Đức đã làm chậm quá trình hiện đại hóa hỏa lực, khiến thủy quân không thể chống cự pháo hạm hiện đại của đối phương.

Kết luận

Nghiên cứu về chính sách an ninh - phòng thủ biển của nhà Nguyễn giai đoạn 1802 - 1858 mang lại 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  • Làm sáng tỏ nhận thức chiến lược của các vua Nguyễn về vai trò của 3.260 km bờ biển đối với vận mệnh quốc gia.
  • Phục dựng diện mạo tổ chức bộ máy quản lý biển chuyên trách thông qua Ty Tào chính, Nha Thương bạc và các tấn thủ địa phương.
  • Khẳng định bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật đóng tàu chiến và huấn luyện thủy quân chính quy nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Cung cấp chuỗi bằng chứng lịch sử xác thực về sự hiện diện liên tục của Đội Hoàng Sa với 70 suất đinh tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc về mối quan hệ giữa mở cửa giao thương hàng hải và tự chủ quốc phòng.

Để phát huy giá trị của công trình, lộ trình nghiên cứu tiếp theo cần tập trung khảo sát thực địa hệ thống pháo đài ven biển và đối chiếu Châu bản triều Nguyễn với tư liệu lưu trữ của Pháp và Anh trong giai đoạn 2026 - 2028. Độc giả, nhà nghiên cứu và các cơ quan hữu quan hãy khai thác ngay tài liệu này nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.