CHƯƠNG 1 DANG BO TÍNH BAC KAN THUC HIEN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TO CHUC CO SO DANG TU NAM 2001 DEN NAM 2005 1. Khai quát đặc điểm, tình hình chung của tinh Bắc Kan va công tác xây dựng đảng trước năm 2001 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh té xã hội * Vé điều kiện tự nhiên: - Về vị trí dia lý: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc bộ. Với tông diện tích tự nhiên là 4.857,21 km’; phía Bắc giáp Cao Bằng, phía Nam giáp Thái Nguyên, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang và một góc tây bắc giáp với Hà Giang.
Thị xã tỉnh ly cách Thủ đô Hà Nội 170 km vê phía bắc. - Về địa hình: Là tỉnh miền núi, địa hình Bắc Kạn rất đa dạng, phức tạp, chủ yếu là khe suối, đồi núi cao; hệ thống sông, suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghénh; giao thông khó khăn, chủ yếu là đường bộ, tinh có quốc lộ 3 đi qua dai 123,5 km, đây là con đường giao thông huyết mạch quan trọng nối liền Bắc Kạn với các địa phương khác trong khu vực; ngoài ra còn có quốc lộ 279 sang các tỉnh Tuyên Quang, quốc lộ 3B sang Lạng Sơn và hệ thống giao thông liên huyện, tạo thành mạng lưới giao thông phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế - văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. - Về khí hậu, thuỷ văn: Khí hậu của Bắc Kạn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, nhiệt độ trung bình 22°C; có hai mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô hạn, mùa hè nóng am, mưa nhiều. Lượng mưa trung bình hang năm đạt 1.
Độ am binh quan nam 1a 85%. Bắc Kạn còn có nhiều danh lam thắng cảnh thiên nhiên: Hồ Ba Bề rộng 450 ha là danh thắng độc đáo. Hồ và vườn Quốc gia Ba Bề là di sản thiên nhiên của Đông Nam Á, với hệ thống rừng nguyên sinh hàng trăm loài thực vật, động vật quý hiém,. không những chỉ giá trị trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên quí giá mà còn có tiềm năng to lớn về du lịch, đóng vai trò điều tiết nước, điều hoà khí hau, cung cấp thuỷ sản, phát triển giao thông thuỷ lợi.
- Về dân số: Dén ngày 01 tháng 4 năm 2009 toàn tỉnh có 75.648 hộ, dân số 294.660 người, là tỉnh ít dân nhất cả nước; mật độ dân số: 61 ngudi/km’; có 7 dân tộc gồm: Tay, Kinh, Dao, Nùng, Hoa, Mông, San Chay (Cục Tỉhong ké Bac Kan, nam 2009) - Về tổ chức hành chính: Tinh Bắc Kạn được chia làm 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và một thị xã, cụ thể gồm các huyện: Ngân Sơn, Pác Nặm, Ba Bé, Bach Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn (huyện Ba Bê, Pac Nam là 2 huyện nghèo được hưởng chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ). Toàn tỉnh có 112 xã, trong đó có 63 xã và 96 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của Chính phủ (Uy ban dân tộc miễn nui, Quyết định số 05/2007/OD-UBDT, ngày 06 — 9 - 2007), 6 thị tran, 4 phường và 1.399 thôn, tổ nhân dân. *V tình hình kinh tế - xã hội: - Về kinh tế + Sản xuất công nghiệp, xây dựng kết câu hạ tang: Ban Chấp hành Dang bộ tỉnh khoá IX đã ban hành nghị quyết về định hướng phát triển công nghiệp và tiêu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 và Uỷ ban nhân dan tinh đã ban hành qui hoạch thăm đò, khai thác, chế biến khoáng sản của tỉnh giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng đến năm 2020. Thực hiện qui hoạch 3 loại rừng dé tao nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản.
Tinh đã quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khắc phục mọi khó khăn dé day mạnh sản xuất, kinh 10 doanh, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sản xuất công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. + Về kết cau ha tầng kinh tế - xã hội và phát triển đô thị: Đến nay hau hết các đô thị và cụm dân cư nông thôn đã có qui hoạch chung và qui hoạch chỉ tiết. Các đô thị nhất là thị xã Bắc Kạn đã từng bước hoàn thiện kỹ thuật hạ tầng. Năm 2009 đã có 87,5% số xã có điểm bưu điện văn hoá, số hộ dân được sử dụng điện lưới Quốc gia là: 85%, số hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 75%, SỐ xã có trạm truyền hình đạt 90,2%, và có 100% số xã đã có đường 6 tô đến trung tâm xã.
+ Sản xuất nông, lâm nghiệp: Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp như trích ngân sách để phòng, chống bệnh dịch gia súc, hỗ trợ lãi xuất phát triển chăn nuôi trâu bò; hỗ trợ vốn xây dựng mô hình dat giá tri thu nhập 30 triệu đến 50 triệu đồng/ha, tiếp tục thực hiện trợ cước, trợ giá các loại giống, vật tư phục vụ sản xuất. nên sản lượng nông nghiệp đạt kết quả khá. Tốc độ tăng trưởng chung của ngành trong những năm qua đều đạt và vượt chỉ tiêu đã đê ra. + Về thương mại, du lịch: Hoạt động thương mại diễn ra sôi động, công tác phát triển thị trường luôn được đầu tư phát triển.
Tổng mức luân chuyên hàng hoá bán lẻ trên địa bàn năm 2009 là: 1. Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bắc Kạn, nên tiềm năng du lịch bước đâu đã được quân tâm đâu tư và khai thác có hiệu quả. + Tài chính, tín dụng: Quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu trên địa bàn và kết quả thu ngân sách hằng năm đều vượt dự toán đề ra (năm 2007 đạt 123,3 tỷ đồng, vượt 12,1% kế hoạch; năm 2008 đạt 154,2 tỷ đồng, vượt 13,3% kế hoạch; năm 2009 đạt 177,110 tỷ đồng bằng 100,7% kế hoạch). 11 Hoạt động ngân hàng luôn có chuyền biến tích cực, nguồn vốn huy động và tông dư nợ cho vay tăng trưởng khá.
Tổng vốn huy động bình quân 3 năm gần đây tăng 28,6%/năm; tổng dư nợ cho vay tăng bình quân 33,8%/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh trong 5 năm (2005 - 2010) khá cao đạt 11%, thu nhập bình quân đầu người không ngừng được nâng cao, đời sống của nhân dân nhìn chung đã được cải thiện và nâng cao hơn; tuy nhiên một bộ phận đồng bào các dân tộc ở vung cao, vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (ndm 2010: 19,864). - Về văn hoá - xã hội + Giáo dục và đảo tạo: Công tác giáo dục đào tạo luôn được quan tâm lãnh đạo, thực hiện có két quả tốt; đến nay tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo ở các cấp phố thông từ 90% trở lên, toàn tỉnh đã có 27 trường ở các cấp học dat chuẩn quốc gia, 116 xã, phường, thi tran của 8 huyén, thi dat chuan phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở. Đã thực hiện tốt công tác chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong lĩnh vực giáo dục và dao tạo.
Mặc dù kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông còn thấp so với cả nước nhưng tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đăng và trung học chuyên nghiệp tăng hơn so với trước. Đã thành lập trường cao đăng cộng đồng, trường trung cấp y và trường trung cấp nghề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. + Y tế: Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn. Việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về y tế và phòng chống dịch bệnh đạt kết quả tốt, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2009 giảm xuống còn 26,5%; 100% trạm y tẾ xã, phường, thị tran được dựng kiên cố, bán kiên cố; chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa ban tỉnh không ngừng được nâng cao.
12 + Lao động, việc làm và các van dé xã hội: Công tác lao động, giải quyết việc làm gắn với chương trình xoá đói, giảm nghèo được quan tâm thường xuyên thông qua các dự án vay vốn tạo việc làm cho người lao động tại các doanh nghiệp trong và ngoai tỉnh; công tác tạo việc làm mới hang năm đều đạt chỉ tiêu đề ra và đến năm 2009 đã tạo việc làm mới cho 6.000 lao động, đạt 100% kế hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) đã giảm từ 50,87% năm 2005 đến năm 2009 xuống còn 25,82%. Các chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng được thực hiện tốt. Công tác bảo trợ xã hội được quan tâm như việc cứu đói, cứu trợ trong các kỳ giáp hạt, tết, cứu trợ thường xuyên cho các đối tượng cần được hỗ trợ và cứu trợ đột xuất cho đối tượng do bị thiên tai, hoả hoạn.
Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước luôn được triển khai thực hiện tốt tại địa phương như: Chương trình 134, 135 và trợ cước các mặt hàng chính sách; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đúng quy định pháp luật. Năm 2009 tỉnh đã tô chức thành công Đại hội đại biểu các dan tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn lần thứ nhất. - Quốc phòng - an ninh + Lực lượng quân sự địa phương luôn được quan tâm xây dựng vững mạnh, hằng năm đều thực hiện tốt các chỉ tiêu tuyển quân, huấn luyện, đảo tạo, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, tuyên sinh quân sự theo kế hoạch; công tác xây dựng củng có và diễn tập khu vực phòng thủ được thực hiện đúng kế hoạch đề ra. Công tác xây dựng dân quân, tự vệ thường xuyên được quan tâm chú trọng.
+ Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính tri nội bộ, an ninh tư tưởng, an ninh văn hoá, an ninh kinh tế. Thực hiện có hiệu quả chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; chương trình hành động phòng, chống ma tuy,.ty lệ điều tra khám 13 phá án hang năm đều đạt từ 85% trở lên, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được triển khai rộng khắp. Công tác tuyên truyền về an toàn giao thông, kiểm tra và xử lý các vụ vi phạm an toàn giao thông được thực hiện thường xuyên.
Tuy nhiên tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn còn diễn biến phức tạp.