Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VE TIẾP XÚC CU TRI CUA ĐẠI BIEU HOI DONG NHÂN DAN TINH 1. Khái niệm, đặc điểm va nguyên tắc tiếp xúc cử tri của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh 1. Khái niệm tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tinh Việc tiếp xúc cử tri đại biéu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phát từ chủ quyền nhân dân là thuật ngữ đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Ngay từ nền dân chủ Hy Lạp, La Mã cô đại thì khái niệm việc tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phát từ chủ quyền nhân dân đã được nhắc đến mặc dù giới hạn của khái niệm nhân dân trong thời kỳ này còn hạn chế (chỉ những nam giới trưởng thành, là người tự do mới có được quyền công dân và tập hợp lại thành nhân dân) nhưng với danh nghĩa là công dân tự do, nhân dân tham gia vào việc thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước.
Nhân dân (những công dân tự do) là chủ nhân của quyén lực nhà nước và trực tiếp thực thi, điều hành mọi công việc nhà nước. Những người cầm quyền là những người được ủy quyền. Quyền lực nhân dân là thường xuyên và không giới hạn. Quyền lực của Nhà nước và người cầm quyền là không thường xuyên và có giới hạn.
Hiến pháp của Rome và Athène quy định “các nghị định của viện nguyên lão chỉ được có hiệu quả trong vòng một năm, sau đó nếu dân chúng biểu quyết thông đồng tình thì mới trở thành luật thường xuyên và mãi mãi” [5, tr. Những tư tưởng và thực tiễn xây dựng nhà nước dân chủ Athène đã góp phần hình thành nên những tư tưởng về việc tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phát từ chủ quyền nhân dân sau này như John Locke; Stuar Miller, Montesquieu, Rousseau. John Locke (1632-1704): John Locke là nhà triết học duy vật người Anh, ông đã xây dựng Lý thuyết về tự do của nhà triết học duy vật Anh thế kỷ XVII tiếp tục phát triển về lý luận pháp quyền tự nhiên, theo đó, ông lý giải sự ngự trị của pháp luật dưới hình thức Nhà nước và chuyền quyền tự nhiên về phía tự do cá nhân con người. Montesquieu (1689 - 1755): Lý thuyết về phân quyền, việc tiếp xúc cử tri đại biéu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phat từ chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội của trường phái khai sáng Pháp mà dién hình là Montesquieu quan niệm Nhà nước ra doi từ sự vận động và phat triển của xã hội loài người đến một trình độ nhất định.
Con người sống theo bản năng sinh tồn rồi dần vươn lên sống theo xã hội và theo pháp luật. Theo đó, con người lập gia đình, xã hội rồi mới lập Nhà nước. Việc ủy nhiệm một sé người nắm quyền lực nhà nước và thay mặt nhân dân tổ chức, quản lý xã hội như một tất yếu khách quan. Montesquieu quan niệm trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Ca ba quyền lực này do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi hay bất động. Tuy nhiên, vì tính tất yếu của mọi sự vật là vận động nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà di tới một cách nhip nhàng [13, tr. Jean Jacques Rousseau (1712 - 1788): Tác pham làm nên tên tudi của Rousseau là “Khế ước xã hội”, xuyên suốt tác phẩm của mình ông ủng hộ tư tưởng dân chủ, ủng hộ thuyết khế ước xã hội. Ông bắt đầu tác phẩm của mình băng luận đề: “Con người sinh ra tự do nhưng rồi đâu đâu con người cũng sông trong xiéng xích”.
Theo ông, con người sinh ra vốn di là tự do, nhưng những chế định xã hội làm cho con người ngày càng rời xa tự do ban sơ của mình. Theo Rousseau, việc tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phát từ chủ quyền nhân dân là không thé chuyên nhượng và không thể phân chia. Một nhà nước được sinh ra từ khế ước xã hội, thì các thành viên của khê ước có thê bãi bỏ nó khi nó lạm quyên. 10 Ban Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khang định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.
Đặc biệt hơn, ngay sau khi dành thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tô chức cuộc tổng tuyển cử đầu tiên để bầu ra bộ máy của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhân dân Việt Nam được thực hiện quyền làm chủ của mình sau bao nhiêu năm chịu đời nô lệ, đây là “ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”. Như vậy, có thể nói, nguyên lý việc tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh được xuất phát từ chủ quyên nhân dân là cơ sở để nhận diện bản chất và nội dung mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Cũng như giữa nhân dân và các đảng phái chính trị khác có trong chế độ xã hội có nhà nước.
Trong xã hội dân chủ, quyên lực nhà nước là quyên lực uy quyên của nhân dân, do vậy, mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước là mối quan hệ chỉ phối - phụ thuộc, quan hệ giữa người chủ và người đại diện. Quyển lực nhân dân quyết định phạm vi, mục đích, kề cả cách thức sử dụng quyên lực nhà nước, còn quyên lực nhà nước chịu sự kiểm soát của quyên lực nhân dân. Từ nguyên ly chung đó, do đó, tại Điều 94 Luật TCCQDP Điều 94. Trách nhiệm tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu cử bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân nơi mình là đại biểu, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri.Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phô biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với Nhân dân thực hiện các nghị quyết đó. 11 Tại điểm tiếp xúc, cử tri nghe đại biểu báo cáo một số kết quả Kỳ họp đại biểu HĐND tỉnh báo cáo dự kiến nội dung, chương trình Kỳ họp, HĐND tình hình kinh tế - xã hội [25, tr. HĐND tỉnh có chính sách, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, nhất là đối với những địa bàn khó khăn; hỗ trợ các địa phương nâng cấp các công trình hạ tầng cơ sở vật chất như trường học, trụ sở làm việc. Tiếp xúc cử tri nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp.
Bởi vì, riếp xúc cử tri (TXCT) của đại biểu HĐND tinh là dé thục hiện việc giữ mối liên hệ giữa đại biểu HĐND với cử tri ở don vị bau cử. Thông qua kênh TXCT, đại biểu HĐND có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cua cử tri, đồng thời báo cáo với cử tri việc thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu. Làm tốt công tác TXCT, giải quyết kịp thời những ý kiến kiến nghị, nguyện vọng chính đảng và những bức xúc của cử tri sẽ góp phan giữ vững ồn định tình hình tại địa phương, đồng thời nâng cao vai trò, vị trí của người đại biểu HĐND, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp. Đặc điểm tiếp xúc cử tri đại biểu Hội đồng nhân dân tinh Thứ nhất, thé hiện trách nhiệm chính trị - pháp lý của đại biểu đối với Đại biểu dân cử nói chung, đại biểu HĐND nói riêng là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng cử tri, nhân dân.
Tiếp xúc cử tri là một trong những hình thức giữ mối liên hệ của đại biểu với cử tri thông qua các hoạt động gặp gỡ giữa đại biểu với cử tri dé trao đồi thông tin, giúp đại biểu thu thập và phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương; báo cáo với cử tri kết quả kỳ họp, phổ biến và giải thích các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, vận động nhân dân thực hiện Nghị quyết đó; báo cáo với cử tri về kết quả hoạt động của đại biêu. 12 Do đó, cần phải gắn bó chặt chẽ với cử tri, tăng cường hoạt động tiếp xúc với cử tri dé lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, tổng hợp ý kiến của cử tri dé phản ánh đến các kỳ hop và đôn đốc việc giải quyết của co quan có thâm quyền. Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri. Thời gian qua, công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND tỉnh được tiến hành thường xuyên, đều đặn và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn khá nhiều vấn đề cả về hình thức tiếp xúc cử tri, thành phần hội nghị tiếp xúc cử tri, nội dung các cuộc tiếp xúc, chất lượng, hiệu quả, tính thực chất của hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biêu HĐND tỉnh cần được xem xét, cải tiến. Các đại biểu mới thực hiện tiếp xúc với cử tri ở đơn vị bầu ra mình theo sự phân công của tô đại biểu mà chưa thực hiện việc tiếp xúc luân phiên ở các đơn vị bầu cử (ngoài đơn vi bầu ra mình) trên địa bàn nên tính đại diện chưa cao.