phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam - TS Hồ Bá Thâm với công trình “Đổi mới và phát triển hệ thống chính trị” [154].
Tác giả đã phân tích vị trí, vai trò của HTCT trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước trên cơ sở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Qua đó, tác giả đã đề xuất hai giải pháp nhằm đổi mới và phát triển HTCT ở Việt Nam là tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. - PGS, TS Lê Quốc Lý, “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” [121]. Các tác giả đã tập trung làm rõ quá trình ra đời và xây dựng HTCT ở Việt Nam, đồng thời đã phân tích, xác định những đặc trưng cơ bản của HTCT Việt Nam hiện nay, những biến đổi và phát triển của HTCT với các yếu tố như mối quan hệ giữa HTCT với cơ sở kinh tế, cơ cấu xã hội giai cấp, sự ảnh hưởng của nhân tố văn hóa truyền thống của dân tộc, những tư tưởng triết học, những quan niệm đạo đức, những truyền thống của cộng đồng đối với sự hình thành và phát triển của HTCT nước ta.
- Nguyễn Duy Quý, “Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới”[143]. Tác giả đã tổng kết, đánh giá hiện trạng cũng như thành tựu và hạn chế của HTCT nước ta trong hơn 20 năm đã qua. Trên cơ sở dự báo sự vận động của HTCT, các tác giả đã đề xuất các giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện HTCT nước ta trong giai đoạn mới. - Bùi Thị Thu Hiền, Tư tưởng Hồ chí Minh với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay [88].
Tác giả luận án đã đưa ra khái niệm và phân tích đặc điểm của HTCT Việt Nam; làm rõ được thực trạng của HTCT Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất bốn giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới HTCT Việt Nam: xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch vững mạnh; xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể chính trị - xã hội (CT- XH); nâng cao dân trí và thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội.TS Nguyễn Ngọc Long, “Những đặc trưng cơ bản, quan điểm, nguyên tắc xây dựng và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”[118]. Công trình này đã nghiên cứu phân tích xác định những đặc trưng cơ bản của HTCT với tính cách là cái tất yếu hợp lý trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH ở nước ta; xuất phát từ thực tiễn, nhận thức lại những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về HTCT của chủ nghĩa xã hội; làm sáng tỏ một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTCT. Trên cơ sở đó, đề tài này đã đề xuất những kiến nghị về mặt vận dụng quan điểm, nguyên tắc trong đổi mới HTCT ở nước ta. Các kết quả nghiên cứu của đề tài này đã góp phần cung cấp luận cứ, luận chứng cho đổi mới tư duy lý luận chính trị, hệ thống chính trị, giải quyết một số vấn đề cụ thể do thực tiễn xây dựng HTCT đặt ra.
Đinh Thế Huynh, GS. Phùng Hữu Phú, GS. Lê Hữu Nghĩa, GS. Vũ Văn Hiền và PGS.
Nguyễn Viết Thông, 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam [99]. Đây là một công trình mang tính tổng kết 30 năm đổi mới ở Việt Nam, vấn đề dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được các học giả đề cập, phân tích khá kỹ lưỡng từ quá trình nhận thức về dân chủ và thực tiễn xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; phân tích làm rõ quá trình nhận thức và thực tiễn xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị nước ta trong 30 năm sau thực hiện đổi mới (1986). - Đặng Văn Lợi, Mối quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị hiện nay [120]. Trên cơ sở nghiên cứu trên bình diện tăng cường vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng ở địa phương và thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh phía nam, đề tài đã tiếp cận nghiên cứu trên 3 tuyến vấn đề lớn như: 1.
Quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị dưới góc độ lý luận; 2. Thực trạng và những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quan hệ giữa xây dựng chỉnh đốn Đảng với xây dựng hoàn thiện hệ thống chính trị; 3. Trên cơ sở lý luận và thực trạng, vấn đề đặt ra, đề tài đã đưa ra và luận giải các giải pháp tăng cường quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. - Dương Phú Hiệp, Đổi mới hệ tư tưởng chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay [89].
Tác giả đã phân tích các quan điểm mới trong hệ tư tưởng chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Đó là những 7 quan điểm mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, về vấn đề đại đoàn kết dân tộc, vấn đề quan hệ giữa các quốc gia, về hệ thống chính trị, về thực hiện dân chủ. Trong bài viết, tác giả đã trình bày những quan điểm mới về hệ thống chính trị của Đảng ta. Theo tác giả, trước đây, trong các văn kiện của Đảng thường sử dụng cụm từ “hệ thống chuyên chính vô sản”.
Lần đầu tiên ở nước ta, cụm từ “hệ thống chính trị” được sử dụng trong Nghị quyết Trung ương 6, khóa VI và từ đó hầu như không còn sử dụng cụm từ “hệ thống chuyên chính vô sản”. Điều đó thể hiện quan điểm mới về hệ thống chính trị; dẫn đến việc đổi mới quan điểm về vai trò, chức năng, quan hệ và hoạt động của cả hệ thống chính trị nói chung và của từng bộ phận trong hệ thống đó. Với 03 bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị, Đảng đã có sự đổi mới. Đó là cả một quá trình vận động, trăn trở, tìm tòi để đi tới sự đổi mới hoàn thiện hơn.
Nhóm các công trình nghiên cứu này là cơ sở để tác giả luận án tìm hiểu, trình bày những nội dung về HTCT và HTCT cấp huyện trong HTCT ở Việt Nam hiện nay liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình. Các công trình nghiên cứu về cán bộ; cán bộ lãnh đạo, quản lý và công tác cán bộ 1. Các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, đặc điểm của cán bộ và CBLĐ, QL các cấp, ngành, địa phương - PGS, TS Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS Trần Xuân Sầm, Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [174]. Các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và phương pháp luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Các tác giả nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ như: về vị trí của cán bộ và công tác cán bộ; về tiêu chuẩn cán bộ; việc phát hiện, lựa chọn, đánh giá sử dụng và cất nhắc cán bộ. Đồng thời, các tác giả tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong lịch sử nước ta và một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapo. Bám sát mục tiêu đã được xác định, các tác giả tập trung hướng vào luận cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mà không sa vào những vấn đề cụ thể hoặc dừng ở sự mô tả chung chung. Các tác giả cố gắng luận giải, khái quát lý 8 luận cho việc nâng cao chất lượng cán bộ trên cơ sở những dữ liệu, số liệu thu thập được.
Từ đó, các tác giả đã đưa ra quan điểm, phương hướng giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu cho phù hợp, đặc biệt, nhấn mạnh đến nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ. Đây là tài liệu có giá trị tham khảo tốt để nghiên cứu sinh xây dựng và đề xuất các giải pháp trong quá trình nghiên cứu luận án. - Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.11, Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới [145 ]. Đề tài tập trung phân tích sự cần thiết và đảm bảo sự phù hợp giữa tiêu chuẩn và cơ cấu cán bộ trong các giai đoạn lịch sử mới.
Mỗi thời kỳ khác nhau, tiêu chuẩn cán bộ cũng có yêu cầu riêng. Các tác giả khẳng định, trước yêu cầu nhiệm vụ mới trong thời kỳ mới, đội ngũ cán bộ phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lãnh đạo, quản lý; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Từ đó, các tác giả đã đưa ra hệ thống tiêu chuẩn chung đối với cán bộ lãnh đạo, chủ chốt đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết cụ thể hóa cơ cấu và tiêu chuẩn từng chức danh đối với mỗi cơ quan, tổ chức, từng cấp, từng ngành. - Đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005, mã số KX.07, Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức [135].
Các nhà khoa học đã chỉ rõ cơ sở lý luận về công tác xây dựng đội ngũ CB, CC trong giai đoạn hiện nay. Đề tài cũng nghiên cứu, tổng kết và đánh giá thực trạng đội ngũ CB, CC và thể chế quản lý CB, CC hiện nay. Các tác giả đã trình bày và phân tích tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nguyên tắc đổi mới cán bộ của Đảng ta giai đoạn hiện nay.