Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước (mã số: 62 31 02 03) với đề tài "Công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Văn Hiếu, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Trương Thị Thông tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, 2020).

Về tính cấp thiết, công tác xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng giữ vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động của Đảng, trong đó công tác tuyên giáo (CTTG) là lĩnh vực trọng yếu. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ những hạn chế: chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao; tính chiến đấu, tính thuyết phục còn hạn chế; việc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động; việc triển khai chỉ thị, nghị quyết về rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống ở một số nơi chưa đồng bộ. Địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc giữ vị trí trọng yếu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, được xác định là “phên dậu” của Tổ quốc. Tại đây, các đảng bộ xã trực tiếp lãnh đạo nhân dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ chủ quyền biên giới, đấu tranh phòng, chống buôn lậu, buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới, cũng như chống các hoạt động phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, CTTG của đảng bộ xã tại khu vực này vẫn còn nhiều lúng túng về nội dung, phương thức tiến hành, mô hình tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc là yêu cầu cấp bách.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp khả thi nhằm tăng cường CTTG của các đảng bộ này đến năm 2030.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong nước và nước ngoài liên quan trực tiếp đến đề tài luận án; chỉ ra những kết quả, xác định những vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ những vấn đề lý luận về CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc gồm khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, nội dung, phương thức tiến hành CTTG.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc, chỉ rõ những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm.
  4. Đề xuất phương hướng và những giải pháp tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Toàn bộ các hoạt động CTTG của đảng bộ xã tại các tỉnh biên giới phía Bắc.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020); các phương hướng và giải pháp đề xuất có giá trị định hướng đến năm 2030.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 5 tỉnh biên giới phía Bắc gồm Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với tổng số 815 xã.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm nội dung:

1. Các công trình khoa học trong nước:

  • Nghiên cứu về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ): Nguyễn Đức Ái (luận án tiến sĩ nghiên cứu năng lực lãnh đạo của TCCSĐ vùng cao phía Bắc tại Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu); Nguyễn Ngọc Thịnh (đề tài cấp Bộ về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đảng viên); Nguyễn Việt Phương (đề tài cấp Bộ khảo sát TCCSĐ cấp xã miền núi Tây Bắc); Hội đồng Lý luận Trung ương (nghiên cứu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và giải pháp giáo dục chính trị, tư tưởng); Dương Trung Ý (chuyên khảo về nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn); Tạ Ngọc Tấn (vấn đề đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới); Võ Văn Đức và Đinh Ngọc Giang (khảo sát năng lực TCCSĐ và cán bộ tại Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang, Hòa Bình, Lạng Sơn).
  • Nghiên cứu về công tác tư tưởng (CTTT): Cao Văn Định (luận án tiến sĩ về CTTT của TCCSĐ cấp xã vùng dân tộc thiểu số Bắc Trung Bộ từ năm 1986 đến nay); Hà Ngọc Hợi (tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả CTTT); Nguyễn Khắc Bộ (phương châm “kết hợp hai chiều”, “dân biết, Đảng biết” ở cơ sở); Triệu Quang Tiến (CTTT của cấp ủy xã miền núi phía Bắc); Lương Khắc Hiếu (các công trình về tư tưởng, phong cách tuyên truyền Hồ Chí Minh; giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng tập I và II; chuyên khảo Cơ sở lý luận công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỹ năng tuyên truyền miệng năm 2018); Nguyễn Danh Tiên (sự lãnh đạo CTTT thời kỳ mới); Đỗ Ngọc Ninh (xử lý tình huống trong CTTT, dân vận giai đoạn 1998–2009); Phạm Tất Thắng (đổi mới CTTT, lý luận); Đào Duy Quát (chuyên khảo về hệ thống, cấu trúc CTTT, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên); Ngô Huy Tiếp và Đinh Ngọc Giang (chất lượng CTTT ở cơ sở, công tác tuyên truyền miệng); Ngô Huy Tiếp (lý luận cấu thành CTTT gồm lý luận, văn hóa - văn nghệ, tuyên truyền - cổ động); Phạm Văn Linh (mối quan hệ giữa tính thuyết phục và tính chiến đấu trong CTTT; tác động của toàn cầu hóa đến CTTG); Hoàng Quốc Bảo (các yếu tố quy định tính thuyết phục trong CTTT); Đào Duy Tùng (CTTT vừa là khoa học vừa là nghệ thuật); Mai Đức Ngọc (quy trình xử lý tình huống CTTT); Lê Mai Trang (luận án tiến sĩ về đổi mới công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu hội nhập); Nguyễn Đắc Hưng (tính thuyết phục của CTTT trên 3 phương diện: quan điểm, lập trường, kỹ năng).
  • Nghiên cứu về CTTG và bộ máy tuyên giáo: Ngô Văn Thạo (Nghiệp vụ tuyên giáo - xác định CTTG là sự thống nhất biện chứng giữa CTTT và công tác khoa giáo); Đỗ Khánh Tặng (chuyên đề lý luận phục vụ CTTG); Hà Đăng (đổi mới tư duy, phong cách CTTG); Lê Hồng Anh (nâng cao chất lượng CTTG); Lâm Phương Thanh (công tác điều tra, nắm bắt dư luận xã hội); Bùi Thế Đức (công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng; tiêu chuẩn cán bộ tuyên giáo có “tâm” và “tầm”; CTTG với xây dựng Đảng); Phạm Thu Hà (nghiên cứu mô hình ban tuyên vận xã tại Lào Cai); Trần Doãn Tiến và Trần Viết Lưu (đánh giá CTTG năm 2014–2015); Mai Văn Ninh (5 nhiệm vụ trọng tâm đổi mới CTTG); Học viện Báo chí và Tuyên truyền (giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo); Bùi Thị Kim Hậu (4 yếu tố tác động đào tạo cán bộ tuyên giáo); Nguyễn Minh Tuấn (5 tiêu chuẩn nghề tuyên giáo); Phạm Văn Hiến (luận án tiến sĩ về tổ chức và hoạt động ban tuyên giáo đảng ủy xã từ 2011 đến nay); Phạm Hồng Cẩm (kinh nghiệm đổi mới tuyên truyền miệng, hội nghị trực tuyến tại Quảng Ninh); Võ Văn Thưởng (nâng cao tính chủ động, sáng tạo của cán bộ tuyên giáo); Lương Ngọc Vĩnh (phân định CTTG với CTTT và cơ quan tuyên giáo); Ban Tuyên giáo Trung ương (tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ CTTG cơ sở).

2. Các công trình khoa học nước ngoài:

  • Kinh điển Mác - Lênin: V.I. Lênin (luận giải mối quan hệ giữa công tác lý luận và CTTT, vai trò của tổ chức cơ sở đảng như những pháo đài xây dựng kinh tế ở tổng, xã); C. Mác và Ph. Ănghen (quan điểm về việc lý luận thâm nhập vào quần chúng trở thành lực lượng vật chất, xây dựng chi bộ thành hạt nhân liên kết công nhân).
  • Nghiên cứu tại Trung Quốc: Điền Tâm Minh (công tác chính trị tư tưởng phòng chống hủ bại); Trần Dục Dân (kết hợp lý lẽ và tình cảm trong công tác chính trị tư tưởng); Vương Bột Chính (xây dựng “dàn hợp xướng” công tác tư tưởng); Điền Trung Mẫn (phương châm “lấy dân làm gốc”); Triệu Văn Như, Trương Vệ Đông, Lí Biêu (phương pháp tiếp cận các nhóm quần chúng khác nhau); B. Mozias (bảo đảm cơ sở tư tưởng hệ cho cải cách kinh tế); Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi (cơ chế phản hồi nhanh dư luận; xây dựng hệ giá trị nòng cốt của chủ nghĩa xã hội); Lý Diệu Bác (tính đổi mới và tính thời đại của CTTT); Bùi Phương Dung (công tác tuyên truyền tư tưởng); Tập Cận Bình (tổng kết 30 năm xây dựng Đảng thời kỳ cải cách mở cửa); Chu Chi Hòa (đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn); Vũ Dần (văn hóa liêm chính); Bành Lập Binh (giáo dục tư tưởng định hình tác phong cán bộ).
  • Nghiên cứu tại Lào: Phăn Đuông Chít Vông Sa (công tác lý luận của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào từ Đại hội IV); Xắc Xa Vắt Xuân Thêp Phim Ma Son (CTTT của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào từ Đại hội VI); Bun Đuông Cay Xỏn (chất lượng CTTT tại 4 tỉnh Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay, Khăm Muộn, Xa Văn Na Khệt giai đoạn 1996–2008).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Mặc dù các công trình đã đề cập nhiều khía cạnh của CTTT và CTTG, song phần lớn mới dừng lại ở quy mô chung toàn quốc hoặc cấp tỉnh, huyện. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về CTTG của đảng bộ cấp xã đặt trong bối cảnh đặc thù về địa lý, dân tộc, tôn giáo và an ninh - quốc phòng của các tỉnh biên giới phía Bắc; chưa làm rõ sự giao thoa, chồng chéo giữa CTTG của cấp ủy với công tác quản lý nhà nước về thông tin, văn hóa, xã hội của chính quyền cơ sở; đồng thời còn thiếu hệ thống giải pháp gắn liền với mô hình ban tuyên giáo/ban tuyên vận cấp xã tại khu vực này đến năm 2030.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng và CTTG. Các văn kiện pháp quy trực tiếp gồm Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (Điều 21 về TCCSĐ), Nghị quyết Đại hội X, XI, XII và Quy định số 127-QĐ/TW ngày 01/03/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn. Khung lý thuyết của luận án phân định rõ: CTTG là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện của tổ chức đảng trên các lĩnh vực tư tưởng, lý luận chính trị, tuyên truyền, cổ động, văn hóa - văn nghệ và khoa giáo; phân biệt giữa CTTG với CTTT và phân biệt giữa CTTG với cơ quan chuyên trách làm công tác tuyên giáo.

Cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu:

  • Cơ sở thực tiễn: Báo cáo tổng kết CTTG của Ban Tuyên giáo Trung ương, báo cáo của Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy 5 tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) từ năm 2010 đến 2020; các số liệu thống kê tổ chức đảng, đảng viên và kết quả phiếu khảo sát, phỏng vấn thực tế tại 815 xã.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, thống kê thực chứng, so sánh đối chiếu, điều tra xã hội học và phương pháp trao đổi trực tiếp với cán bộ, đảng viên tại cơ sở.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này trình bày bức tranh tổng thể về lịch sử nghiên cứu CTTT, CTTG và xây dựng TCCSĐ trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các luận điểm cơ bản của từng công trình, chỉ ra những kết quả có thể kế thừa (khái niệm CTTT, vai trò hạt nhân của TCCSĐ, phương thức tuyên truyền miệng, tiêu chuẩn cán bộ tuyên giáo). Đồng thời, chương 1 xác định rõ 3 vấn đề trọng tâm mà luận án tập trung giải quyết:

  1. Làm rõ lý luận CTTG của đảng bộ xã ở địa bàn đặc thù biên giới phía Bắc, phân định CTTG với CTTT và xử lý sự chồng chéo chức năng giữa Đảng và chính quyền cơ sở.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng CTTG tại 815 xã thuộc 5 tỉnh biên giới phía Bắc từ năm 2010 đến nay, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
  3. Dự báo bối cảnh, đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả CTTG của đảng bộ xã đến năm 2030.

Chương 2: Công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2 phân tích các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và tổ chức đảng tại 5 tỉnh biên giới phía Bắc:

  • Đặc điểm địa lý và dân cư: Địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông chia cắt, khí hậu khắc nghiệt (thường xuyên có lũ quét, băng giá, lốc xoáy). Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) như Tày, Nùng, Mông, Dao, Thái, Máng, Kháng, Cống, Cờ Lao, La Chi, Thèn, Pu Péo, Sán Dìu... Đời sống kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, canh tác nương rẫy. Tỷ lệ đồng bào DTTS rất cao (tại vùng cao Lạng Sơn chiếm khoảng 85%, dân tộc Kinh chiếm 15% tập trung ở đô thị). Nhiều xã thuộc tỉnh Lào Cai có 100% dân số là người DTTS (như các xã A Mú Sung, A Lù, Nâm Chạc, Y Tý, Ngải Thầu thuộc huyện Bát Xát; Nậm Chảy, Dìn Chin, Pha Long, Tả Ngải Chồ, Tả Gia Khẩu thuộc huyện Mường Khương; Sản Chải thuộc huyện Si Ma Cai).
  • Tập tục và xã hội: Tồn tại tập quán du canh du cư, tệ nạn mê tín dị đoan, hủ tục ma chay cưới xin tốn kém, hiện tượng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống (Lai Châu có tỷ lệ tảo hôn 18,6% và 200 đôi kết hôn cận huyết; Lào Cai có 224 đôi kết hôn cận huyết; Cao Bằng ghi nhận tỷ lệ kết hôn cận huyết cao ở dân tộc Dao 64% và dân tộc Mông 61%). Thiết chế dòng họ, già làng, trưởng bản có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội; tâm lý “phép vua thua lệ làng” vẫn chi phối một bộ phận quần chúng.
  • Quy mô và cơ cấu tổ chức đảng bộ xã: Toàn bộ 815 xã ở 5 tỉnh đều tổ chức đảng bộ 2 cấp (không có đảng bộ bộ phận ở thôn bản; các chi bộ xóm trực thuộc đảng ủy xã). Bình quân mỗi đảng bộ xã có từ 10 đến 12 chi bộ với quy mô trên 130 đảng viên/đảng bộ.

Bảng 1: Phân bố số lượng xã và đảng bộ xã theo 5 tỉnh khảo sát

STT Tỉnh khảo sát Số lượng xã / Đảng bộ xã Ghi chú
1 Lạng Sơn 207 Tỉnh có số lượng xã lớn nhất trong vùng khảo sát
2 Cao Bằng 177 Địa bàn biên giới, địa hình chia cắt mạnh
3 Hà Giang 177 Nhiều xã vùng cao núi đá, điều kiện khó khăn
4 Lào Cai 143 Nơi triển khai mô hình Ban Tuyên vận xã
5 Quảng Ninh 111 Biên giới kết hợp đất liền và hải đảo
Tổng 5 tỉnh 815 Địa bàn khảo sát trực tiếp của luận án

Bảng 2: Biến động đánh giá phân loại tổ chức đảng bộ xã qua các năm tại một số tỉnh

Tỉnh Tiêu chí phân loại Năm 2010 Năm 2015 Năm 2018
Cao Bằng Đạt trong sạch, vững mạnh 84 đảng bộ 59 đảng bộ 44 đảng bộ
Quảng Ninh Đạt trong sạch, vững mạnh 77 đảng bộ 48 đảng bộ (tiếp tục giảm theo chuẩn mới)
Hà Giang Hoàn thành tốt nhiệm vụ 43 đảng bộ 64 đảng bộ —
Lào Cai Hoàn thành tốt nhiệm vụ 50 đảng bộ — 106 đảng bộ
Lạng Sơn Hoàn thành nhiệm vụ — 71 đảng bộ 65 đảng bộ

Bảng 3: Số lượng đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ tại 5 tỉnh biên giới phía Bắc

Tỉnh Năm 2010 (người) Năm 2015 (người) Năm 2018 (người)
Quảng Ninh 8.376 — 12.198
Lào Cai 9.410 13.636 16.310
Lạng Sơn 17.190 23.493 23.906
Cao Bằng 11.954 18.745 21.445
Hà Giang 19.586 24.983 27.x (theo bảng thống kê)

Về số lượng đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ: Tại Quảng Ninh giảm từ 126 người (2010) xuống 83 người (2015) và 71 người (2018); tại Hà Giang là 132 người (2010) và 131 người (2018).

  • Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ xã: Căn cứ Quy định số 127-QĐ/TW ngày 01/03/2018, đảng bộ xã là hạt nhân chính trị ở cơ sở, thực hiện 5 nhiệm vụ: (1) Lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; (2) Lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng; (3) Xây dựng đảng bộ, chi bộ và công tác tổ chức, cán bộ; (4) Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; (5) Lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
  • Mô hình tổ chức CTTG cơ sở: Luận án phân tích hai mô hình đang tồn tại ở cơ sở thông qua Sơ đồ 2.1 (Mô hình Ban Tuyên vận đảng ủy xã, tr. 53 - áp dụng tại Lào Cai) và Sơ đồ 2.2 (Mô hình Ban Tuyên giáo đảng ủy xã truyền thống, tr. 55).

Chương 3: Công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

Chương 3 trình bày kết quả đánh giá thực trạng CTTG tại 815 xã:

  • Ưu điểm: Cấp ủy các xã đã chú trọng công tác giáo dục lý luận chính trị, quán triệt chủ trương, nghị quyết của Đảng; đổi mới hình thức tuyên truyền miệng thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, già làng, trưởng bản; bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin và hội nghị trực tuyến (tiêu biểu tại Quảng Ninh); chủ động đấu tranh chống truyền đạo trái phép và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; thí điểm mô hình Ban Tuyên vận xã và Tổ Tuyên vận thôn bản tại Lào Cai giúp tinh gọn đầu mối và gắn kết CTTG với dân vận.
  • Hạn chế, khuyết điểm: Nội dung CTTG ở nhiều nơi còn chung chung, chưa sát hợp với trình độ nhận thức của đồng bào DTTS; phương thức tuyên truyền còn đơn điệu, chủ yếu một chiều; công tác nắm bắt dư luận xã hội và xử lý các vấn đề phát sinh ở cơ sở đôi lúc còn chậm; tổ chức bộ máy ban tuyên giáo xã thiếu ổn định, cán bộ tuyên giáo cơ sở chủ yếu kiêm nhiệm, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số còn hạn chế; cơ sở vật chất, kinh phí và trang thiết bị phục vụ CTTG ở vùng sâu, vùng biên giới còn thiếu thốn.
  • Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm: Luận án chỉ rõ nguyên nhân khách quan (địa hình phức tạp, đời sống nhân dân khó khăn, âm mưu chống phá tinh vi của các thế lực thù địch) và nguyên nhân chủ quan (nhận thức của một số cấp ủy chưa đầy đủ, thiếu cơ chế chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ tuyên giáo cơ sở). Từ đó, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, kết hợp giữa tuyên truyền với giải quyết lợi ích thiết thực của dân, và xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo am hiểu phong tục tập quán địa phương.

Chương 4: Phương hướng và những giải pháp tăng cường công tác tuyên giáo của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc đến năm 2030

Chương 4 xác định phương hướng và các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, bám sát các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh tại vùng biên cương. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm:

  1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy và hệ thống chính trị cơ sở: Tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của đảng ủy xã đối với CTTG; đưa CTTG thành tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm.
  2. Đổi mới nội dung CTTG: Nội dung tuyên truyền phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo; gắn việc truyền bá đường lối của Đảng với giải quyết các vấn đề thiết thực về kinh tế - xã hội (xóa đói giảm nghèo, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, phòng chống tảo hôn, cận huyết thống, bảo vệ mốc giới).
  3. Đổi mới phương thức tiến hành CTTG: Kết hợp chặt chẽ tuyên truyền miệng với các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, pano, áp phích trực quan; đẩy mạnh tuyên truyền bằng tiếng dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo; nhân rộng các mô hình hiệu quả như Ban Tuyên vận xã.
  4. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở: Chuẩn hóa chức danh cán bộ tuyên giáo cấp xã; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ tuyên giáo và tiếng dân tộc cho cán bộ tại chỗ; có chế độ, chính sách phụ cấp hợp lý để động viên cán bộ tuyên giáo cơ sở yên tâm công tác.
  5. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và kinh phí: Đầu tư trang thiết bị truyền thanh, máy tính, tài liệu tuyên truyền cho các xã biên giới, nhà văn hóa thôn bản.
  6. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong CTTG: Thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ giữa đảng ủy xã với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Công an, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, MTTQ và các ban ngành cấp huyện đứng chân trên địa bàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  1. Về lý luận: Làm rõ đặc điểm chủ thể lãnh đạo CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc; xây dựng và hoàn thiện khái niệm CTTG của đảng bộ xã ở địa bàn vùng biên giới trong giai đoạn hiện nay; phân định ranh giới giữa CTTG của cấp ủy với công tác chuyên môn của chính quyền cấp xã.
  2. Về thực tiễn: Khảo sát toàn diện, cung cấp hệ thống số liệu thực chứng về thực trạng tổ chức đảng, đảng viên và hoạt động CTTG tại 815 xã thuộc 5 tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn 2010–2020.
  3. Về kinh nghiệm: Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với CTTG của đảng bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới.
  4. Về giải pháp: Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm tăng cường CTTG của đảng bộ xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc với tầm nhìn định hướng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn trong 5 tỉnh biên giới phía Bắc (Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) với dữ liệu thực tế giai đoạn 2010–2020, chưa mở rộng khảo sát các tỉnh có đường biên giới thuộc khu vực Tây Bắc (như Điện Biên, Lai Châu, Sơn La) ở cùng mức độ chi tiết về mặt tổ chức cơ sở đảng.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình khoa học trong tương lai có thể mở rộng nghiên cứu so sánh CTTG của đảng bộ cơ sở giữa tuyến biên giới phía Bắc với tuyến biên giới Tây Nam hoặc tuyến biên giới Việt - Lào; nghiên cứu sâu hơn về tác động của không gian mạng và mạng xã hội đối với công tác tư tưởng, tuyên giáo tại các xã vùng biên giới trong bối cảnh chuyển đổi số.


Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cấp ủy và cán bộ lãnh đạo cơ sở: Giúp cấp ủy, ban tuyên giáo đảng ủy các xã biên giới nắm vững quy trình, phương thức và giải pháp nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng tại địa bàn.
  • Cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh ủy các tỉnh biên giới trong việc hoàn thiện mô hình tổ chức ban tuyên giáo/ban tuyên vận cơ sở và chính sách đối với cán bộ tuyên giáo xã.
  • Cơ sở đào tạo lý luận chính trị: Phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi không gian và quy mô khảo sát thực tế của luận án được thực hiện tại những đâu?
Luận án tiến hành khảo sát thực tế tại 5 tỉnh biên giới phía Bắc gồm Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, với tổng số 815 xã thuộc địa bàn nghiên cứu.

2. Chức năng của đảng bộ xã được luận án căn cứ theo văn bản quy định nào của Trung ương Đảng?
Luận án căn cứ vào Quy định số 127-QĐ/TW ngày 01/03/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII “Về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn”, xác định đảng bộ xã là hạt nhân chính trị ở cơ sở.

3. Luận án đã đề cập đến những mô hình tổ chức CTTG nào tại cấp xã ở các tỉnh biên giới phía Bắc?
Luận án phân tích hai mô hình: mô hình Ban Tuyên giáo đảng ủy xã truyền thống (Sơ đồ 2.2) và mô hình Ban Tuyên vận đảng ủy xã (kết hợp với Tổ Tuyên vận thôn bản) được thí điểm triển khai tại tỉnh Lào Cai (Sơ đồ 2.1).

4. Xu hướng biến động về xếp loại chất lượng đảng bộ xã tại các tỉnh khảo sát giai đoạn 2010–2018 diễn ra như thế nào?
Số lượng đảng bộ xã đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh có xu hướng giảm do tiêu chuẩn đánh giá ngày càng chặt chẽ (tại Cao Bằng giảm từ 84 đảng bộ năm 2010 xuống 44 năm 2018; tại Quảng Ninh giảm từ 77 năm 2010 xuống 48 năm 2015). Ngược lại, số lượng đảng bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng lên (tại Hà Giang từ 43 năm 2010 lên 64 năm 2015; tại Lào Cai từ 50 năm 2010 lên 106 năm 2018).

5. Những đặc điểm xã hội nào tại các tỉnh biên giới phía Bắc được chỉ ra là ảnh hưởng trực tiếp đến CTTG của đảng bộ xã?
Đó là: tỷ lệ đồng bào DTTS cao (chiếm trên 85% ở vùng cao); phong tục tập quán khép kín; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống (Lai Châu có tỷ lệ tảo hôn 18,6%; Cao Bằng có hôn nhân cận huyết ở dân tộc Dao 64%, Mông 61%); sự tồn tại của thiết chế tự quản già làng, trưởng bản và tâm lý “phép vua thua lệ làng”.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Hiếu là công trình nghiên cứu chuyên khảo về công tác tuyên giáo của đảng bộ xã tại 5 tỉnh biên giới phía Bắc giai đoạn 2010–2020. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các đặc điểm tự nhiên - xã hội đặc thù và phân tích thực trạng CTTG tại 815 xã biên giới. Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2030 nhằm kiện toàn bộ máy, đổi mới nội dung, phương thức tuyên giáo, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nơi biên cương Tổ quốc.