MỞ ĐẦU 11:30 sáng ngày 8 tháng 7 năm 2022, cựu Thủ tướng Shinzo Abe1 bị ám sát bằng súng khi phát biểu trong một cuộc vận động tranh cử tại thành phố Nara (Nikkei Asia, 2022). Tại một đất nước được đánh giá là an toàn như Nhật Bản, việc xảy ra một vụ giết người bằng súng là cực kỳ hiếm nên vụ ám sát cựu Thủ tướng Shinzo Abe đã để lại một rúng động cực kỳ lớn không chỉ ở Nhật Bản mà trên toàn thế giới. Shinzo Abe là người đã từng gây chú ý khi trở thành Thủ tướng trẻ nhất của Nhật Bản ở tuổi 52 vào năm 2006. Sau đó, ông trở thành Thủ tướng tại nhiệm dài nhất trong lịch sử Nhật Bản và được đánh giá là đã viết lại vị trí của Nhật Bản trên thế giới (Time Magazine, 2022).
Chính vì thế, cái chết bất ngờ của ông thu hút sự quan tâm của dư luận toàn cầu. Những bài báo và các học giả sau đó tiếp tục đào sâu và đánh giá những di sản của vị cố Thủ tướng, người đã để lại nhiều dấu ấn trong giai đoạn nhiều biến động của môi trường an ninh khu vực và quốc tế của đầu thế kỷ 21. Ông Shinzo Abe tái đắc cử Thủ tướng Nhật Bản vào cuối năm 2012 và bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình sau một năm ngắn ngủi ở nhiệm kỳ đầu tiên (09/2006-09/2007) (Fackler, 2012). Vào năm 2013, hai tháng sau khi dẫn dắt Đảng Dân Chủ Tự do của Nhật Bản (LDP) chiến thắng để quay lại với cương vị Thủ tướng, ông Shinzo Abe đã tuyên bố “Nhật Bản đang quay trở lại” (Abe & Tepperman, 2013, tr.
Trong các nhiệm kỳ tiếp theo này, ông không chỉ muốn kiềm hãm sự đi xuống của nền kinh tế Nhật Bản mà còn muốn ngăn chặn sự suy thoái trong vai trò địa chính trị của nước này ở khu vực và quốc tế, đem quốc gia của ông quay lại sức mạnh như trước kia. Dưới thời ông Abe, môi trường an ninh bên ngoài xung quanh Nhật Bản có nhiều thay đổi. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc bên cạnh những động thái mở rộng hoạt động quân sự và chi tiêu quân sự không 1 Tên của người Nhật với họ sẽ đứng trước, tên sẽ đứng sau và tên Thủ tướng 安倍 晋三 được phiên âm theo hệ Hepburn là Abe Shinzō. Tuy nhiên, trong bài luận văn tác giả sử dụng nhiều nguồn tài liệu bằng tiếng Anh nên tác giả sẽ viết tên cố Thủ tướng theo thứ tự là Shinzo Abe xuyên suốt trong bài hoặc ngắn ngọn là Thủ tướng Abe theo họ của ông.
Bên cạnh đó, những rủi ro an ninh tại châu Á không thể không kể đến chương trình tên lửa và hạt nhân của Triều Tiên có nhiều diễn biến phức tạp. Ngoài ra, những thay đổi trong cam kết của liên minh truyền thống Mỹ-Nhật, mối quan hệ được xem là hòn đá tảng cho an ninh của Nhật Bản, đặc biệt rõ rệt dưới thời Tổng thống Donald Trump, đã ảnh hưởng đến chiến lược an ninh quốc phòng của Nhật Bản. Những điều này có thể xem là động lực chính khiến cho Nhật Bản dưới thời ông Abe điều chỉnh chính sách an ninh nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Xét ở khía cạnh kinh tế, chính quyền ông Abe được xem là đã gặt hái được một số kết quả thông qua các chiến lược Abenomics của mình.
Xét về mặt an ninh, những thay đổi trong chính sách của Nhật Bản đã gặp những phản ứng trái chiều. Thủ tướng Shinzo Abe bị chỉ trích vì xa rời những nguyên tắc truyền thống của chính sách an ninh Nhật Bản vốn dĩ gắn với những điều khoản hoà bình thời hậu chiến. Những cải cách của chính quyền ông Abe có thể nhắc đến là việc tăng chi tiêu quốc phòng trong các năm, giới thiệu Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) và Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) bên cạnh việc nới lỏng các hạn chế về xuất khẩu vũ khí và việc diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp. Những thay đổi này dẫn đến những quan điểm cho rằng Thủ tướng Shinzo Abe muốn quân phiệt hoá Nhật Bản trở lại.
Nhưng ở chiều ngược lại, đối với nhiều nhà quan sát thì những phát triển này đã tạo nên những bước tiến đáng kể trong chính sách an ninh của Nhật Bản. Một trong những điểm đáng chú ý trong chính sách Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe là sự tăng cường hợp tác an ninh với khu vực Đông Nam Á, khu vực vốn dĩ gắn trong mối quan hệ với nước này về mặt kinh tế. Trước thời ông Abe, ASEAN đã có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp với Nhật Bản và đến năm 2013 hai bên đánh dấu kỷ niệm 40 năm mối quan hệ đối thoại ASEAN-Nhật Bản (ASEAN, 2013). Dưới thời ông Abe, mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á tiếp tục được đào sâu trong những năm tiếp theo cho đến tháng 08 năm 2020 khi ông chính thức từ nhiệm vì vấn đề sức khoẻ (Enjoji & Griffiths, 2020).
Trong hai năm đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai, Thủ tướng Shinzo Abe cùng Bộ trưởng Ngoại giao Fumio Kishida đã viếng thăm tất cả mười nước thành viên và nhấn mạnh sự quan tâm đến ASEAN. Ngoài ra, trong Sách Xanh Ngoại giao và Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản qua các năm, khu vực Đông Nam Á cũng 3 được nhắc đến xuyên suốt và nhấn mạnh hướng tới đẩy mạnh mối quan hệ an ninh với nước này dưới nhiều hình thức hợp tác đa dạng. Về mặt lý thuyết, những người theo chủ nghĩa hiện thực có thể biện luận rằng Nhật Bản đang bị thách thức bởi sự trỗi dậy mạnh mẽ hơn của Trung Quốc. Bên cạnh đó, việc Nhật Bản nhận ra những thay đổi của Mỹ đối với những cam kết và đóng góp trong mối quan hệ liên minh Mỹ-Nhật khiến cho nước này quan ngại về tình hình quốc phòng – an ninh quốc gia.
Ở một mặt, môi trường an ninh bên ngoài bất ổn với những mối đe doạ tiềm tàng từ nhiều phía là động cơ chiến lược cho những động thái cân bằng bên ngoài của Nhật Bản. Mặt khác, chính phủ Nhật Bản cũng phải hết sức cẩn trọng và cân nhắc cho những thay đổi nhằm cân bằng bên trong nội bộ vốn dĩ phức tạp của quốc gia, nơi chứng kiến sự chia rẽ đảng phái và những phản ứng mạnh mẽ của dân chúng đối với những thay đổi của chính sách. Những người theo chủ nghĩa tự do có thể lý giải rằng Nhật Bản đang tìm cách đối đầu những thách thức an ninh thông qua các khuôn khổ đa phương, hợp tác đôi bên cùng có lợi. Trong đó, nước này đang muốn mở rộng và đa dạng hoá quan hệ với các nước khác trong khu vực và quốc tế.
Trong khi đó, những người theo chủ nghĩa kiến tạo có thể thấy những triển vọng mới về thể chế hợp tác khu vực dựa trên các bản sắc, niềm tin và các giá trị dân chủ của Nhật Bản. Khi quan sát tổng thể, có thể nhận định rằng không có một lý thuyết nào có thể giải thích một cách trọn vẹn mối quan hệ chiến lược giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á dưới thời ông Abe. Khu vực này là một trong những chủ thể được quan tâm đẩy mạnh hợp tác dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe và là thành tố không kém phần quan trọng trong trụ cột thứ ba của chính sách an ninh Nhật Bản. Xét về khía cạnh hợp tác an ninh, Nhật Bản dường như đã chọn cách tiếp cận của chủ nghĩa hiện thực phòng thủ.
Nước này cho thấy việc tăng cường hợp tác quốc tế trong số đó là với khu vực Đông Nam Á nhằm hướng tới việc tối đa hoá an ninh quốc gia. Chính vì thế, luận văn áp dụng góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực phòng thủ để lý giải cho toàn bộ quá trình hoạch định và triển khai chính sách an ninh của Nhật Bản đối vối Đông Nam Á dưới thời của Thủ tướng Shinzo Abe. 4 Vậy cụ thể điều gì làm nền tảng để giải thích cho những thay đổi trong chính sách an ninh của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe (giai đoạn 2012-2020) đối với khu vực Đông Nam Á trên cơ sở lý thuyết thông qua các tài liệu chiến lược cũng như thông qua quá trình triển khai chính sách trên thực tế? Chính quyền ông Abe đã thực sự gặt hái những thành tựu gì trong việc triển khai chính sách an ninh của của Nhật Bản tại khu vực Đông Nam Á? Và liệu rằng, những sự thay đổi lớn của chính sách an ninh của nước này dưới thời ông Abe trong đó đẩy mạnh hợp tác với khu vực Đông Nam Á có phải chỉ để duy trì và thúc đẩy tích cực cho hoà bình khu vực và quốc tế hay có một hàm ý nào đó khác? 1. Lý do chọn đề tài Nhật Bản đã xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các nước Đông Nam Á và đã từng bước nâng tầm mối quan hệ với các quốc gia này lên thành những Đối tác Chiến lược.
Dưới nhiệm kỳ của Thủ tướng Shinzo Abe (2012-2020), mối quan hệ giữa hai bên gặt hái thêm rất nhiều thành tựu, đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và an ninh. Sau gần một thập kỷ với vai trò Thủ tướng, ông Abe đã tạo ra những di sản giá trị trong nhiều lĩnh vực hợp tác nhưng có thể nói nổi bật nhất là chương trình kinh tế “Abenomics” đem lại một số kết quả. Bên cạnh đó, những điều chỉnh đáng chú ý trong Điều 9 của Hiến pháp đã giúp cho Nhật Bản có thể dễ dàng triển khai những kế hoạch hành động của chính sách an ninh và thích ứng với những điều kiện quan hệ quốc tế có nhiều biến động. Trong Sách Xanh Ngoại giao Nhật Bản, chính quyền ông Abe đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho khu vực Đông Nam Á với những chính sách và hành động hết sức cụ thể.
Khu vực này thậm chí đứng ở vị trí số 2 về mặt ưu tiên chỉ sau Mỹ, liên minh truyền thống của Nhật Bản (MOFA, 2021, tr. Đây là lý do chính khiến tác giả chọn đề tài nghiên cứu này. Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời Thủ tướng Shinzo Abe nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới. Trong đó, nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với riêng Đông Nam Á không phải là mới nhưng chưa nhiều theo sự hiểu biết của tác giả.
Một số nghiên cứu được tìm thấy bàn về chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe đến năm 2017-2018 hoặc đánh giá bao quát chính sách đối ngoại và chưa đi sâu cụ thể về khía cạnh an ninh.