CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE ASEAN VA CƠ CHE HOP TAC QUOC PHONG ASEAN 1. Khái quátvề ASEAN 1. Quá trình hình thành và phát triển 1. Qua trình hình thành Kết thúc chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á phải đối mặt với hậu quả nặng nề của chế độ thực dân.
Bộ máy nhà nước được xây dựng theo mô hình phương Tây bị bỏ ngỏ, cộng thêm việc trải qua hàng nghìn năm bị thống trị nên mối quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á gần như không được thiết lập. Bên cạnh đó, với vị thế địa - chính trị là cầu nối giữa An Độ Dương và Đại Tây Dương, Đông Nam A khiến hai siêu cường Liên Xô (cũ) và Mỹ, đại diện cho hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa luôn muốn có được tầm ảnh hưởng với các quốc gia trong khu vực này. Điều đó khiến nội bộ Đông Nam Á có sự phân hóa về chính trị rõ nét khi những nước này chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ hệ thống lưỡng cực của thế giới kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Đặc biệt, do sự kết thúc ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân cũ, vai trò và uy tín của Mỹ, Anh bị suy giảm đã tạo ra “khoảng trống quyền lực” của các quốc gia phương Tây trong khu vực.' Trong bối cảnh đó, mỗi quốc gia đều không muốn rơi vào tình thé lệ thuộc như trước kia nên muốn tạo một khoảng cách an toàn cho mình dé không bị kéo sâu vào cuộc chiến tranh hai cực cũng như tránh không để cho phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ ở khu vực thành các cuộc nội chiến”.
Con đường khôn ngoan và duy nhất trong bối cảnh này là các quốc gia Đông Nam Á cần phải liên kết với nhau trong một tổ chức khu vực dé lấp đi “khoảng trống quyền lực” hiện đang tồn tại trong khu vực và tự quyết định vận mệnh của chính quôc gia, dân tộc mình. ' Xem: Shaun Narine (2002), Explaining ASEAN: Regionalism in Southeast ASIA, Lynne Rienner Publisher, Inc, UK, tr. ? Vũ Dương Ninh (2009), ASEAN thập niên đầu thé ky XXI, Tập Chuyên đề I: Nghiên cứu quốc tế — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. ĐHQG Hà Nội, tr.
8 Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam A, nhiều tô chức khu vực đã được hình thành như Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) ra đời năm 1954, Hiệp hội Đông NamA (Association of Southeast Asia - ASA) thành lập năm 1961, MAPHILINDO thành lập năm 1963. Ngoài ra còn có một số tổ chức khác như “Hội đồng Châu A Thái Bình Dương” (ASPAC), “Hiệp hội Đông Nam A vì hợp tác khu vực” (SEAARC)’,. nhưng tất cả những tô chức này đều không thành công bởi nhiều lí do, trong đó có sự can thiệp từ các cường quốc bên ngoài, không dung hòa được lợi ích dẫn đến những bất đồng giữa các thành viên hay hoạt động lỏng lẻo, không có tính đại diện cho khu vực. ASA, MAPHILINDO hay SEATO đều thất bại song nhu cầu về một tô chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn ở Đông Nam Á chưa bao giờ kết thúc mà ngày càng mạnh mẽ hơn, đặc biệt khi chủ nghĩa khu vực đã hình thành và nhanh chóng phát triển.
Sự xuất hiện của nhiều tổ chức khu vực như Liên đoàn A Rap (1950), Tổ chức các nước Trung Mỹ OCAS (1951), Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC (1957), Tổ chức thống nhất Châu Phi — OAU (1963) không chi là minh chứng thực tế cho những lợi ích mà liên kết khu vực đem lại mà còn là bài học kinh nghiệm quý báu cho chính các nước Đông Nam Á trong quá trình xây dựng một tổ chức quốc tế phù hợp với những đặc thù của khu vực này. Trong bối cảnh đó, ngày 08/8/1967, 5 quốc gia là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines đã thông qua một văn kiện có ý nghĩa lịch sử đối với khu vực với tên gọi là Tuyên bố Băng Cốc, khai sinh ra Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). ASEAN ra đời là kết quả tất yếu từ những nhu cầu liên kết giữa các quốc gia nhằm bảo vệ nền độc lập, hòa bình non trẻ trước sự can thiệp từ bên ngoài, từ nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở tận dụng những lợi thế mà chủ nghĩa khu vực đem lại và là thắng lợi của tinh than hoà giải, hoà hợp giữa các quốc gia trong khu vực.P: The Politics of Economic Cooperation in Asia. “A study of Asian International Organization”, Chapter I, Columbia, Missouri, 1966, tr.
23, 25 * Xem: Nguyễn Tran Qué (Chủ bién),(2005), 35 năm ASEAN — Hop tác và phát triển, Nxb. Khoa học — Xã hội; H. Quá trình phát triển Sau khi thành lập, trong những năm đầu hợp tác, do những nguyên nhân khác nhau cả về khách quan và chủ quan như bối cảnh lịch sử trong khu vực, hoàn cảnh hiện tại của mỗi nước,. ASEAN gần như chưa tiễn hành hoạt động nào đáng kể với tư cách là một tổ chức quốc tế, ngoại trừ việc thông qua Tuyên bố ZOPFAN (A Zone of Peace, Freedom and Neutrality) về khu vực hoà bình, tự do, trung lập tại Kuala Lumpur ngày 17/11/1971 mặc dù trong tuyên bố thành lập, các nước thành viên đều thé hiện rõ quan điểm và mong muốn ASEAN sẽ là một tổ chức hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất năm 1976 tại Indonesia với hai văn kiện được thông qua là Tuyên bố Bali và Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) chính là dấu mốc đầu tiên, và được xem là công cụ pháp lý để xác lập mối quan hệ giữa các quốc gia một cách rõ ràng. Mục đích của việc kí kết TAC là nhằm duy trì hoà bình vĩnh viễn, thúc đây tình đoàn kết, thân thiện, hợp tác lâu bền và chặt chẽ giữa các nước thành viên ASEAN thay vì chỉ như một “liên minh chính trị lỏng lẻo” trong những năm đầu. Đây cũng chính là cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động hợp tác quốc phòng của ASEAN, thể hiện sự trưởng thành về mặt chính trị của ASEAN khi bước đầu thể chế hoá được các cam kết chính trị trong những tuyên bố trước đó, tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý trong việc tuân thủ và thực hiện các cam kết của ASEAN Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ tư năm 1992 tại Singapore đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của tổ chức này. Tình hình chính trị dần ôn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho ASEAN tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, các mô hình liên kết kinh tế khu vực đang ngày càng trở nên phố biến; sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ những nền kinh tế lớn trong khu vực và thế giới cũng như nhu cầu nội tại bức thiết trong việc tìm kiếm và liên kết thị trường, trước hết là các thị trường láng giềng kề cận của mỗi quốc gia thành viên đã thúc day ASEAN chuyền trọng tâm hợp tác từ chính trị sang kinh tế. Sự ra đời của Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) là một bước 10 ngoặt trong lĩnh vực kinh tế bởi những kết quả đạt được từ AFTA đã thúc đây quá trình liên kết kinh tế của ASEAN cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo thuận loi dé ASEAN mở rộng sang nhiều lĩnh vực quan trọng khác như đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ. Những khuôn khổ hợp tác kinh tế này đã tạo ra mối quan hệ qua lại và sự ràng buộc, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa giữa kinh tế với chính trị và giữa các quốc gia thành viên, từ đó, tăng cường sự kết dính giữa các thành viên trong Hiệp hội, tạo tiền đề cho các khuôn khổ hợp tác chính trị - an ninh ASEAN sau này, trong đó có cơ chế hợp tác quốc phòng ASEAN. Trong quá trình phát triển của ASEAN, sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến tiến trình mở rộng từ ASEAN6 trở thành ASEAN 10 với sự gia nhập của Việt Nam năm 1995, tiếp đó là Lào, Myanmar năm 1997 và sau cùng là Campuchia năm 1999.
Sự gia nhập của những quốc gia này đánh dấu sự phát triển vượt bậc của ASEAN, từ một “tổ chức quốc tế trong khu vực” trở thành một “tổ chức quốc tế khu vực”, phát triển theo mô hình liên kết khu vực hiện đại, mô hình của sự “thống nhất trong đa dạng”. Từ đây, tất cả các quốc gia Đông Nam A, dù khác nhau về thé chế, trình độ, tốc độ phát triển kinh tế. đều hợp tác dưới một mái nhà chung ASEAN để cùng chia sẻ, giải quyết những vấn đề chung của tô chức. Một dấu mốc vô cùng quan trọng trong việc vừa hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của ASEAN vừa xây dựng nền tảng pháp lý cho việc hình thành những liên kết ở cấp độ cao hơn giữa các thành viên trong hiệp hội là sự kiện thông qua Hiến chương ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 18 diễn ra tại Singapore năm 2007.
Bao gồm 46 điều khoản chính, chia thành 12 chương, chưa ké phụ lục, nội dung của Hiến chương đã bao quát tất cả những vấn đề cơ bản, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của một tổ chức quốc tế từ mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, cơ chế ra quyết định, cơ cấu tổ chức cho tới quy chế thành viên, quan hệ đối ngoại cũng như những nội dung về giải quyết tranh chấp và các vấn đề mang tính chất thủ tục. Với Hiến chương, tất cả nguyên tắc, luật lệ và hành xử của ASEAN từ trước đến nay đã được pháp điển hóa một cách có hệ 11 thống trong một văn kiện pháp lý duy nhất, thay vì quy định rải rác trong nhiều văn kiện khác nhau, đồng thời được cập nhật nhiều nội dung pháp lý mới, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển của ASEAN cũng như những thay đổi trong bối cảnh khu vực và quốc tế. Hiến chương ASEAN chính là cơ sở pháp lý cao nhất, là khung pháp lý trong việc xây dựng các thỏa thuận điều chỉnh quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực của ASEAN. Bên cạnh đó, nguyên tắc thừa nhận giá trị ưu tiên thi hành của các quy định của Hiến chương so với các văn kiện khác của ASEAN nếu có sự khác biệt góp phần đảm bảo sự thống nhất trong toàn bộ hoạt động của các thiết chế và quốc gia thành viên trong việc xây dựng và thực thi các cam kết của Hiệp hội - không xung đột với những quy định nền tảng của Hiến chương - cũng như đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật ASEAN.