phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng, 10 tiết. Chƣơng 1: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về ngoại giao. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Chƣơng 3: Ý nghĩa của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về ngoại giao đối với hoạt động ngoại giao Việt Nam – ASEAN giai đoạn hiện nay.
NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGOẠI GIAO 1.1 Nguồn gốc hình thành Tƣ tƣởng ngoại giao đặc sắc của Hồ Chí Minh đƣợc hình thành từ nhiều yếu tố bao gồm chủ nghĩa yêu nƣớc, truyền thống văn hóa dân tộc, chủ nghĩa Mác – Lênin 1.1 Chủ nghĩa yêu nước Suốt dọc chiều dài lịch sử từ dựng nƣớc và giữ nƣớc, ông cho ta đã luôn anh dũng kiên cƣờng chiến đấu, với đặc thù là một đất nƣớc nhiều biến động, sớm phải đấu tranh để bảo vệ dân tộc từ những ngày đầu. Thành quả độc lập nhƣ hôm nay là cả quá trình hi sinh biết bao xƣơng máu của cha anh, để làm đƣợc điều đó đòi hỏi phải có một sức mạnh to lớn vô hình, và nó không gì khác chính là lòng yêu nƣớc – truyền thống quý báu bao đời của dân tộc ta. Từ khi khai hoang mở cõi, Việt Nam đã sớm chịu sự dòm ngó từ bên ngoài. Do vị trí địa lý thuận lợi, giàu tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam trở thành miếng mồi béo bở cho các nƣớc thi nhau xâm lƣợc, từ đó hình thành nên một sức mạnh tiềm tàng trong lòng nhân dân Việt Nam –đó là lòng yêu nƣớc.
Suốt dọc chiều dài lịch sử, nƣớc ta đối đầu với hiểm nguy, với giặc ngoại xâm từ thời Bà Trƣng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung…Một quốc gia nhỏ bé nhƣng đã ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi. Những điều này thể hiện rõ nét nhất qua các lần nƣớc ta đƣơng đầu chống giặc ngoại xâm, hay nhƣ ý chí quyết tâm đánh giặc của toàn dân tộc đƣợc thể hiện trong hội nghị Diên Hồng, với tiếng hô vang “đánh” nhƣ 15 khích lệ tinh thần quả cảm của cả một dân tộc. Đó là tinh thần khảng khái, quyết tâm chống giặc không chịu đầu hàng của anh hùng Trần Quốc Tuấn khi trả lời nhà vua Trần Nhân Tông: “Nếu bệ hạ muốn hàng, trƣớc hết hãy chém đầu thần đi đã”. Anh hùng Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết: “Như nước Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Sơn hà cương vực đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có” Thể hiện rõ nét hơn tinh thần dân tộc cùng lòng yêu nƣớc và tự hào với những giá trị truyền thống của quê hƣơng. Có thể thấy, chủ nghĩa yêu nƣớc của ta bắt nguồn từ lòng tự tôn dân tộc, trải qua sự rèn giũa trong môi trƣờng khác nghiệt của chiến tranh đƣợc nâng tầm thành cả một hệ thống quan điểm tƣ tƣởng lý luận và hệ giá trị của dân tộc. Yêu nƣớc là tình cảm của con ngƣời đối với quê hƣơng xứ sở, với ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử cùng với các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Song song với quá trình xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, thì lòng yêu nƣớc từ là tình cảm, một yếu tố tâm lý xã hội đã tiến dần lên thành một ý thức xã hội.
Từ ý thức xã hội nó nâng tầm hệ thống và trở thành chủ nghĩa yêu nƣớc mang tầm giá trị tƣ tƣởng. Chủ nghĩa yêu nƣớc đối với ngƣời Việt Nam mang giá trị tinh thần cao quý, là sản phẩm kết tinh từ những tình cảm, tƣ tƣởng thiêng liêng và 16 chuẩn mực trong đạo đức xã hội; điều chỉnh hành vi, thái độ cùng chuẩn mực thẩm mỹ vật chất và tinh thần cho con ngƣời Việt Nam. Dòng chảy yêu nƣớc là dòng thủy lƣu xuyên suốt trong lịch sử truyền thống dân tộc ta. Ở Việt Nam, yêu nƣớc vừa là tình cảm, vừa là tƣ tƣởng mà cũng đồng thời cũng là triết lý, “là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng-sai, tốt-xấu, nên-chăng”[15, tr.10] của ngƣời Việt Nam , nhƣ ý GS Trần Văn Giàu đã phát biểu.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình hiếu học có truyền thống yêu nƣớc từ lâu đời, những tƣ tƣởng yêu nƣớc đã thấm đƣợm vào bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ảnh hƣởng sâu sắc tới định hƣớng và nội dung trong tƣ tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh và thoi thúc Ngƣời dấn thân vào con đƣờng đi tìm chân lý, tìm đƣờng cứu nƣớc cho dân tộc. Chủ nghĩa yêu nƣớc với Hồ Chí Minh đó còn là sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nƣớc chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng bằng việc chống lại các tƣ tƣởng áp bức, thống trị, can thiệp dƣới các chiêu bài khác nhau, chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ; chống lại sự áp đặt xâm hại lợi ích các dân tộc dƣới các hình thức khác nhau. Suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh dành trọn cho sự đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc mình và phấn đấu vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại.2 Truyền thống văn hóa dân tộc Với chiều dài lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, truyền thống văn hóa Việt Nam có nhiều giá trị bền vững, lâu đời, đó là truyền thống lịch sử, truyền thống dân tộc. Bản lĩnh sáng tạo, sức sống của con ngƣời Việt Nam chính là cái hồn của truyền thống văn hóa dân tộc.
Chúng ta có quyền tự hào về đất nƣớc mình với những giá trị văn hiến kết tinh thành chuỗi giá trị chân – thiện – mỹ trong lòng cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên với những đặc 17 thù cũng nhƣ điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng nơi từng vùng, từng cách thức sinh hoạt và trải nghiệm với thực tế mà cách hiểu, cách thể hiện giá trị chân – thiện – mỹ đó lại khác nhau. Điều đó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống, hình thành nên tính cách của con ngƣời và cộng đồng dân tộc. Từ các giá trị văn hóa truyền thống đó mà kết tinh lại thành quan niệm, tƣ tƣởng, triết lý, trong đạo đức, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa.
Kinh tế tiểu nông đòi hỏi sự chung sức chung lòng của đông đảo cộng đồng dân cƣ. Chính điều đó dần hình thành nên ý thức đoàn kết thống nhất trong đại đa số nhân dân bởi họ ý thức đƣợc rằng sẽ chẳng thể nào tồn tại và phát triển nếu nhƣ sống biệt lập và chia rẻ lẫn nhau, muốn cùng tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có sự gắn kết và chung tay với nhau. Tính cách chung sức chung lòng của ngƣời Việt Nam còn đƣợc thể hiện phần nào qua những thử thách khắc nghiệt của thiên tai và chống giặc ngoại xâm, sự đoàn kết và nƣơng tựa nhau, hợp tác đồng thuận trong công việc càng đƣợc thể hiện rõ nét để cùng tồn tại và phát triển. Tinh thần ấy trở thành phƣơng châm sống, ứng xử và chỉ dẫn mọi hành động.
Từ bao đời nay, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc của nƣớc ta còn là sự gắn kết giữa nhà với quê hƣơng làng xã. Sự kết hợp đó là liên kết cộng đồng từ cái riêng lẻ trong cái tổng thể, từ cái tổng thể hợp thành từ sức mạnh riêng lẻ, dung hòa và nâng đỡ lẫn nhau. Những sinh hoạt và giá trị truyền thống đều bắt nguồn từ làng xã. Các quan hệ ứng xử từ hòa thuận đến việc đùm bọc và che chở cho nhau trong mọi hoàn cảnh hay tinh thần tƣơng thân tƣơng ái giúp nhau mọi việc từ gia đình đến làng xóm; những giá trị hiếu thảo, kính trọng ông bà cha mẹ đến việc thờ cúng tổ tiên đều từ chiếc nôi làng xã mà hình thành.
Làng xã bền vững vƣợt khó khăn, đối đầu 18 thử thách qua bao lần giặc xâm lƣợc vẫn giữ vững giá trị tốt đẹp của dân tộc trong lòng nhân dân. Nền văn hóa Việt Nam còn là sự du nhập của các nền văn hóa xâm nhập mà phải kể đến đó là tôn giáo bao gồm nhƣ: Phật giáo của Ấn Độ Nho giáo và Lão giáo của Trung Quốc, Thiên Chúa giáo của phƣơng Tây…Tuy nhiên một điều cần lƣu ý, các tôn giáo đó khi du nhập vào Việt Nam không giữ đúng nguyên bản gốc mà bị chính nền văn hóa Việt Nam cải biến với những đặc trƣng khác biệt sao cho phù hợp với cách sống, cách sinh hoạt và đặc trƣng của ngƣời Việt. Sự tiếp thu và cải biến đó vừa phát huy tính đa dạng văn hóa vừa thể hiện đƣợc sự năng động sáng tạo và tự chủ trong tƣ duy ngƣời Việt Nam. Với đặc thù sớm bị xâm lƣợc và phải trải qua nhiều khó khăn trong chống kẻ thù phần nào hình thành nên tƣ tƣởng chính trị với nội dung chủ yếu là coi trọng độc lập, tự chủ và nhân dân, đề cao tƣ tƣởng nhân nghĩa, hòa mục trong việc trị quốc yên dân.
Nếu ở phƣơng Tây lối sống du cƣ du mục đã hình thành nên lối văn hóa với đặc trƣng là chinh phục tự nhiên thì ở phƣơng Đông nói chung và Việt Nam nói riêng con ngƣời lại thuận với tự nhiên theo cách “chung sống với lũ”. Nƣớc có một sức mạnh ghê ghớm không gì cản nỗi và là nổi sợ của con ngƣời khi “tức nƣớc vỡ bờ”. Tuy vậy nƣớc cũng rất mềm mại, uyển chuyển và hòa đồng nhƣ tính cách con ngƣời Việt Nam. Chúng ta vừa đắp đê ngăn lũ, vừa đào kênh dẫn nƣớc vào đồng để chống hạn, tháo úng, rửa phèn.
Vì thế trong văn hóa ứng xử của ngƣời Việt vừa cƣơng lại vừa nhu, rất uyển chuyển và linh hoạt. Nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, Việt Nam giáp biển Đông với đƣờng bờ biển kéo dài hơn ba nghìn hai trăm cây số vừa là cơ hội nhƣng cũng là thách thức đối với quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc 19 gia của nƣớc ta. Với điều kiện nhƣ vậy thế nên trong lịch sử dân tộc các thế lực xâm lƣợc điều đó đòi hỏi Việt Nam phải linh hoạt trong cách ứng xử. Đồng thời trong quan hệ với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới đều phải tính đến quan hệ ràng buộc về lợi ích địa - chính trị giữa các nƣớc với nhau.
Trong cách ứng xử phải khôn khéo, linh hoạt và tinh tế.