MỞ ĐẦU 1. ý do chọn đề tài Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước đòi hỏi bức bách phải tìm cách thoát khỏi tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu một bước ngoặt cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đại hội VI khẳng định đổi mới là yêu cầu bức thiết, vấn đề có ý nghĩa sống còn với đất nước.
Kể từ năm1986 đến nay, Việt Nam đã luôn "tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững hơn” [41, tr. 30 năm Đổi mới đã cho thấy một trong những nhiệm vụ cơ bản của công tác đối ngoại là củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nói chung và việc điều chỉnh chính sách đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nói riêng không chỉ là đòi hỏi chủ quan của tình hình khủng hoảng trong nước mà còn là vấn đề sống còn trước yêu cầu khách quan khi tình hình thế giới thay đổi, nhất là sau khủng hoảng của CNXH ở Liên Xô, Đông Âu. Trong công cuộc đổi mới, quyết định của Việt Nam gia nhập ASEAN là lựa chọn "có tính cân não" [111, tr.
208] cả về đối nội và đối ngoại, góp phần giúp Việt Nam thoát khỏi thế bị bao vây cấm vận, hội nhập với khu vực và quốc tế. Về đối nội, đổi mới chính sách với ASEAN là quyết định táo bạo, thay đổi hoàn toàn tư duy bạn - thù. Về đối ngoại, đây là quyết định khiến ASEAN và các nước lớn bất ngờ, làm thay đổi hoàn toàn cục diện quan hệ của Việt Nam. Sự điều chỉnh đúng đắn, kịp thời chính sách với ASEAN đã góp phần tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm các yêu cầu về an ninh, phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam.
luan an 2 Thành công của sự nghiệp đổi mới là kết quả của quá trình tìm tòi, trải nghiệm, liên tục đổi mới và hoàn thiện tư duy của Đảng trên mọi lĩnh vực. Trong đó, quá trình đổi mới tư duy và đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng được hoàn thiện. Từ chỗ coi thế giới là một vũ đài đấu tranh, Việt Nam đã khẳng định đó là môi trường tồn tại và phát triển của mình. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, lấy việc bảo đảm lợi ích quốc gia là nguyên tắc tối cao.
Sự phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN vừa góp phần tạo cơ sở, vừa là thành quả của quá trình đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng. Nhìn lại 30 năm đổi mới, có thể thấy bước phát triển từ chủ trương "không ngừng phấn đấu nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Inđônêxia và các nước Đông Nam Á khác. mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác" (1986) [37, tr. 114]; tới “ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN” (1996) [38, tr.121] đến “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” (2016) [45, tr.154] là bước tiến dài và sự phát triển đột phá trong chính sách của Việt Nam với ASEAN.
Việt Nam đã vượt qua những nghi kỵ và đối đầu với các nước thành viên ASEAN để trở thành một thành viên "chủ động, tích cực, có trách nhiệm" trong Cộng đồng ASEAN. Đó là kết quả của quá trình điều chỉnh, phát triển tư duy, hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại 30 năm qua. ASEAN đã trở thành nhân tố quan trọng giúp tạo thế và lực cho Việt Nam. Với Cộng đồng ASEAN hình thành từ cuối năm 2015, ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh liên kết, có vai trò trung tâm trong việc định hình trật tự mới trong khu vực khi tình hình thế giới và khu vực đang có những chuyển biến sâu sắc.
Khu luan an 3 vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định. Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt. Xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới. Ở trong nước, những thành tựu của 30 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước.
Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới trong quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới cả về tư duy, hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (tháng 1/2016) khẳng định ASEAN là một trọng tâm của chính sách đối ngoại của Việt Nam với định hướng “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” [45, tr. Để phát huy nhân tố ASEAN một cách hiệu quả, tăng cường lợi ích cho đất nước, cần có những đánh giá tổng thể về chính sách của Việt Nam với ASEAN cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn 1986-2016 nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN giai đoạn này sẽ giúp đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam với khu vực trong thời kỳ Đổi mới thông qua các bước điều chỉnh chính sách; đóng góp cơ sở khoa học để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế toàn diện. Nghiên cứu cũng sẽ góp phần triển khai định hướng đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XII, phát huy hiệu quả vai trò của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Với những ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn chủ đề “Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ Đổi mới (1986 đến nay)”, làm đề tài cho luận án Tiến sỹ chuyên ngành Quan hệ quốc tế của mình luan an 4 với mục tiêu đưa ra khuyến nghị chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN trong thời gian 10 năm tới. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung và với ASEAN nói riêng đã nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước do vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam, song các công trình nghiên cứu đều có mục tiêu và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cụ thể: 2.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 2. Các nghiên cứu về quá trình đổi mới chính sách đối ngoại của Việt Nam Các tài liệu về cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam gần đây mới được phổ biến rộng rãi. Nổi bật là các cuốn "Cục diện thế giới đến 2020”, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2010 [79]; “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020”, Nxb.
Chính trị quốc gia, 2010 [77], “Đường lối Chính sách Đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2011 [78] do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh chủ trì biên soạn với những nhận định về sự phát triển cục diện thế giới, định hướng chiến lược và đường lối chính sách đối ngoại cho Việt Nam. Tác giả Phạm Quang Minh trong “Chính sách đối ngoại Đổi mới của Việt Nam (1986 - 2010)”, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2012 [87] đã phân tích một cách hệ thống chính sách đối ngoại của Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới.
Các tác giả Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (chủ biên) trong “Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Nxb. Chính trị hành chính (2013) [46] đã trình bày tư tưởng, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo, lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế lớn; phương hướng và thành tựu đối ngoại trong việc phá thế bao vây cấm vận, thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế để rút ra bài học về hoạch định chính sách đối ngoại. Ngoài ra, cuốn “Thế giới trong 50 năm qua (1945- 1995) và Thế giới trong 25 năm tới (1995-2020)” của tác giả Nguyễn Cơ Thạch, luan an 5 Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 [119] cũng đưa ra những nhận định về sự chuyển biến của tình hình thế giới trong thời gian qua và sắp tới.
Nhiều công trình đã điểm những dấu mốc của ngoại giao Việt Nam hiện đại và ngoại giao thời kỳ đổi mới, như: “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” của Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Nxb. Chính Trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 [13]; "Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam, 1945 – 1995" của Lưu Văn Lợi, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 1998 [73]; “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại 1986 - 2000” của Vũ Quang Vinh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001 [131].