mở đầu cho những cơ hội cải thiện quan hệ và tăng cường hợp tác. Trong khi đó, mốc kết thúc của luận án là năm 2000. Mốc này không đánh dấu sự thay đổi về chất trong quan hệ Việt Nam-Thái Lan mà đây chỉ là một sự quy ước có tính tạm thời. Vào thời điểm này, quan hệ Việt Nam-Thái Lan vẫn đang tiếp tục phát triển.
Việc lựa chọn mốc năm 2000 làm điểm kết thúc của luận (LUAN.04 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.04 án chủ yếu dựa trên thời điểm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ và liên quan đến thời điểm đăng ký đề tài này vào năm 2001. Các quan hệ quốc tế thường là loại quan hệ hai hoặc đa chiều. Bởi thế, “quan hệ Việt Nam-Thái Lan” ở đây xin được hiểu là mối quan hệ hai chiều mà chủ yếu là quan hệ của Việt Nam đối với Thái Lan. Còn khi nói đến “quan hệ Thái Lan-Việt Nam” là muốn nhấn mạnh những động thái quan hệ từ phía Thái Lan.
Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu. Nguồn tài liệu Các nguồn tài liệu được sử dụng trong luận án này bao gồm: Thứ nhất, các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê nin, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam, nghị quyết của Trung ương và chỉ thị của Bộ chính trị. Đây là nguồn tư liệu quan trọng có tác dụng định hướng nghiên cứu. Thứ hai, các tài liệu chính thức như những văn bản của Chính phủ và của Bộ Ngoại giao hai nước, tuyên bố chung Việt Nam-Thái Lan, hiệp định ký kết giữa hai nước, thông cáo báo chí, các văn kiện chính thức của ASEAN.
Đây là một nguồn tư liệu quan trọng cung cấp những thông tin cơ bản, các sự kiện lớn một cách chính thức và xác thực Thứ ba, diễn văn, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạo và quan chức cấp cao hai nước. Nguồn tài liệu này có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiểu quan điểm và động thái của hai chủ thể trong mối quan hệ Việt Nam- Thái Lan. Thứ tư, tài liệu đánh giá hay báo cáo tổng hợp về quan hệ Việt Nam- Thái Lan của một số bộ ngành ở nước ta. Các tài liệu này giúp ích rất nhiều trong việc tìm hiểu, nghiên cứu quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong các lĩnh (LUAN.04 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.04 vực quan hệ khác nhau.
Chúng giúp đem lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc về mối quan hệ này. Hơn nữa, nguồn tài liệu này còn cung cấp những con số thống kê trong từng mặt quan hệ, giúp thấy được sự vận động của các lĩnh vực cụ thể trong tiến trình chung. Thứ năm, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam-ASEAN của các học giả trong và ngoài nước. Đây là nguồn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài này không chỉ ở trong thông tin, mà còn trong phương pháp nghiên cứu và các quan điểm đánh giá khác nhau.
Các nguồn thông tin trên được khai thác qua các sách, tạp chí nghiên cứu, kỷ yếu hội nghị khoa học, báo chí và Internet. Các tài liệu này chủ yếu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và một phần bằng tiếng Nga. Các tài liệu bằng tiếng Thái được khai thác qua bản dịch. Phương pháp nghiên cứu Quan hệ Việt Nam-Thái Lan từ 1976 đến 2000 là một hiện tượng xã hội mang tính quá trình.
Vì thế, việc nghiên cứu đề tài này được dựa trên các phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong đó, thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lê nin, quan điểm về sự vận động của lịch sử xã hội loài người, phép biện chứng của sự phát triển, các quy luật vận động, nguyên lý phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện đã được áp dụng như những phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong bản luận án này. Quan hệ Việt Nam-Thái Lan diễn ra gắn bó với lịch sử Việt Nam, trong những điều kiện đặc thù của Cách mạng Việt Nam. Là một bộ phận của quan hệ quốc tế thế giới, quan hệ Việt Nam-Thái Lan luôn chịu tác động mạnh mẽ của môi trường quốc tế và khu vực.
Vì thế, một nền tảng tư duy quan trọng khác được quán xuyến toàn bộ luận án là quan điểm quốc tế của Đảng ta và các quan điểm đối ngoại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là các quan điểm (LUAN.04 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.04 kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tăng cường quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Quan hệ Việt Nam-Thái Lan từ 1976 đến 2000 là một quá trình lịch sử. Vì thế, các phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử dụng chủ yếu trong luận án.
Đó là phương pháp mô tả lịch sử nhằm tái hiện bức tranh chung và quá trình của mối quan hệ này. Bên cạnh đó, phương pháp lịch đại đã được kết hợp với phương pháp đồng đại trong việc trình bày quá trình quan hệ Việt Nam-Thái Lan. Việc sử dụng phương pháp lịch đại cho thấy rõ vai trò của các yếu tố lịch sử cũng như tính quá trình tương đối liên tục của mối quan hệ này. Còn phương pháp đồng đại được sử dụng để nghiên cứu các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động tới quan hệ Việt Nam-Thái Lan.
Phương pháp logic- lịch sử được áp dụng nhằm lý giải các hiện tượng, phân tích động thái, tìm hiểu nguyên nhân chi phối sự vận động của tiến trình quan hệ này. Trong khi đó, phương pháp so sánh lịch sử đã được vận dụng để làm rõ những thay đổi về chất và lượng của mối quan hệ này qua từng thời kỳ, từng giai đoạn. Việc tiến hành đồng thời hai phương pháp so sánh lịch sử và logic-lịch sử giúp nhận thức được tính chất và đặc điểm của quan hệ này trong các giai đoạn lịch sử… Bên cạnh đó, một số phương pháp khác cũng được sử dụng trong luận án này. Phương pháp hệ thống không chỉ đặt quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong tổng thể quan hệ đối ngoại của mỗi nước mà đặt nó trong bối cảnh khu vực và quốc tế.
Nhờ đó, môi trường tác động và các lực bên ngoài chi phối quan hệ này cũng sẽ được chỉ ra và phân tích. Trong khi đó, phương pháp cấu trúc thì lại giúp phân tích cơ chế vận hành và đặc điểm cấu trúc của quan hệ Việt Nam-Thái Lan. Trong từng lĩnh vực quan hệ cụ thể, một số phương pháp khác cũng được áp dụng. Ví dụ, trong lĩnh vực an ninh-chính trị, phép chứng minh dãy được sử dụng không chỉ để làm sáng tỏ tính quá trình của hiện (LUAN.04 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.04 tượng mà còn để hạn chế bớt những nhận định chủ quan mang tính siêu hình.
Hay trong lĩnh vực kinh tế, phương pháp thống kê cũng được sử dụng nhằm phản ánh tiến trình quan hệ kinh tế giữa hai nước và làm rõ thêm các kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận án, việc khảo sát thực địa, gặp gỡ trao đổi với các học giả Thái Lan, phỏng vấn những người trực tiếp làm công tác quan hệ Việt Nam-Thái Lan… cũng đã được tiến hành. Không chỉ là một quá trình lịch sử, quan hệ Việt Nam-Thái Lan cũng là một hiện tượng quan hệ quốc tế. Bởi thế, việc nghiên cứu đối tượng này cũng được kết hợp với các phương pháp nghiên cứu quốc tế.
Quan hệ Việt Nam- Thái Lan đã được xem xét và nghiên cứu trên bốn cấp độ phân tích quan hệ quốc tế: Cấp độ toàn cầu, cấp độ liên quốc gia, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân. Ngoài ra, một số phương pháp và quan điểm nghiên cứu quan hệ quốc tế cũng đã được vận dụng trong luận án. Đó là các lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại như chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do, lý thuyết về hợp tác và hội nhập, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, quan điểm về hệ thống quốc tế, các quan điểm về chủ thể và lợi ích trong quan hệ quốc tế, phương pháp nghiên cứu chính sách đối ngoại. Tất nhiên sự phân chia các loại phương pháp như trên chỉ mang tính tương đối bởi khả năng kết hợp vận dụng lẫn nhau của chúng và do tính chất liên ngành trong nghiên cứu lịch sử nói chung, lịch sử quan hệ quốc tế nói riêng.
Tuy nhiên, việc kết hợp những phương pháp này đã cho phép xem xét quan hệ Việt Nam-Thái Lan như một cấu trúc hoàn chỉnh gồm nhiều yếu tố tác động qua lại với nhau, vận động theo một trục thời gian, trong một môi trường tương tác có tính biến động cao. Nó cũng giúp chúng ta nhận thức được nguồn gốc của các sự kiện, tính chất và đặc điểm của mối quan hệ qua những thời kỳ cũng như góp phần dự báo được những xu hướng và cái đích mà quan hệ này sẽ tiến tới.04 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những đóng góp của luận án Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về quá trình vận động của quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong suốt thời gian từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976 đến năm 2000. Luận án đã tập hợp và xử lý tư liệu nhằm dựng lại quá trình diễn biến với những đặc điểm và tính chất của quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong các thời kỳ lịch sử khác nhau.
Đồng thời, luận án này còn phân tích động lực và những yếu tố tác động, làm sáng tỏ cấu trúc và cơ chế vận hành của mối quan hệ này. Từ đó, luận án đã góp phần nhận thức một cách sâu sắc hơn về Thái Lan và mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan. Bên cạnh đó, bởi tính điển hình và vai trò quan trọng của mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong khu vực, việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần vào việc nghiên cứu Đông Nam Á, đặc biệt trong việc tìm hiểu quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á và Đông Dương. Về mặt phương pháp luận, công trình này cũng có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu các đề tài tương tự về lịch sử quan hệ quốc tế cũng như quan hệ đối ngoại của nước ta khi kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế.
Theo dòng lịch sử của tiến trình quan hệ, các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế đã được vận dụng để phân tích.