Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2000)" do nghiên cứu sinh Hoàng Khắc Nam thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Vũ Dương Ninh, thuộc chuyên ngành Lịch sử cận đại và hiện đại (mã số 50304).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Theo quy luật phát triển, quan hệ đối ngoại là hoạt động mang tính sống còn đối với mọi quốc gia. Việt Nam và Thái Lan là hai nước có mối quan hệ láng giềng lâu đời tại Đông Nam Á lục địa. Trong giai đoạn 1976 - 2000, quan hệ giữa hai nước diễn biến phức tạp, trải qua nhiều nấc thang từ đối đầu, chuyển giao sang hòa dịu cho đến hợp tác cùng phát triển trong khuôn khổ song phương và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tác giả chỉ ra rằng, tại thời điểm thực hiện đề tài, các công trình đã công bố trong và ngoài nước hoặc chỉ tiếp cận quan hệ hai nước theo từng thời đoạn hẹp, hoặc chỉ đào sâu vào một số mảng hoạt động riêng biệt (chính trị, an ninh hay thương mại), hoặc tiếp cận trong bức tranh chung của quan hệ Việt Nam - ASEAN. Do đó, một công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về tiến trình vận động, bản chất, đặc điểm, động lực và các nhân tố chi phối toàn bộ quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong suốt 25 năm (1976 - 2000) vẫn còn là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tái hiện và hệ thống hóa quá trình diễn biến của quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 1976 đến năm 2000 trên các lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội.
  2. Phân tích các cơ sở lịch sử, bản chất, tính chất cơ bản và đặc điểm chủ yếu của mối quan hệ qua từng thời kỳ phân kỳ lịch sử.
  3. Làm sáng tỏ động lực nội tại cùng các nhân tố tác động (môi trường quốc tế, vai trò các nước lớn, bối cảnh khu vực Đông Nam Á và các yếu tố nội tại của hai quốc gia).
  4. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, tồn tại trong quan hệ hai nước; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra các khuyến nghị chính sách phục vụ công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình vận động của mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong giai đoạn 1976 - 2000, xem xét đồng thời trên các phương diện (nhà nước - nhà nước, nhân dân - nhân dân) và đa lĩnh vực (an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam và Thái Lan, đặt trong không gian tương tác khu vực Đông Dương, Đông Nam Á và hệ thống quan hệ quốc tế.
  • Phạm vi thời gian: Khung thời gian từ ngày 6/8/1976 (thời điểm hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao) đến năm 2000 (mốc phân định mang tính quy ước gắn với thời điểm đăng ký đề tài vào năm 2001).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm duyệt hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai nhóm không gian nghiên cứu chính:

Tình hình nghiên cứu trong nước

  1. Nguồn sử liệu cổ và thư tịch: Các bộ biên niên sử lớn ghi chép về quan hệ bang giao như Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn); các thư tịch khảo cứu địa chí, văn hóa như Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Vân đài loại ngữ (Lê Quý Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam liệt truyện chính biên.
  2. Giai đoạn trước năm 1975: Các ấn phẩm chủ yếu phản ánh Thái Lan dưới góc độ đồng minh của Mỹ hoặc khai thác quan hệ nhân dân, kiều bào như Bác Hồ - Hồi ký (1960), Cuộc vận động cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan của Lê Mạnh Trinh (1961), tập hồi ký Đầu nguồn (1975), Đường Bác Hồ đi cứu nước (1975).
  3. Giai đoạn từ sau năm 1976 và thời kỳ Đổi mới: Các công trình nghiên cứu tổng quan về đất nước, lịch sử và văn hóa Thái Lan của Nguyễn Khắc Viện (1988), Vũ Dương Ninh (1990), Huỳnh Văn Tòng (1993), Lê Văn Quang (1995), Nguyễn Tương Lai và Phạm Nguyên Long (1998), Lâm Quang Huyên (1992); các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Thái Lan của Nguyễn Thu Mỹ, Nguyễn Khánh Vân.
  4. Nghiên cứu về quan hệ đối ngoại và quan hệ Việt Nam - ASEAN: Các công trình của Nguyễn Quốc Hùng (1990), Phan Lạc Tuyên (1993), Phạm Đức Thành (1996, 1998), Đào Huy Ngọc (1997), Võ Thanh Thu (1998), Vũ Dương Ninh (2002).
  5. Nghiên cứu trực tiếp về quan hệ Việt Nam - Thái Lan: Chuyên khảo Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong những năm 90 (2001) do Nguyễn Tương Lai chủ biên; các bài báo chuyên đề của Phạm Xuân Nam (1991), Dương Trung Quốc (1991), Vũ Dương Ninh (1992), Nguyễn Thu Mỹ (1991, 1993), Trương Duy Hoà (1995), Nguyễn Bộ Lĩnh (1996), Hà Huy Thành (1997), Nguyễn Xuân Thắng (2001), Nguyễn Diệu Hùng (2001), Phạm Ngọc Long (1997), Nguyễn Hồng Thao (1998).

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

  1. Học giả Liên Xô / Nga: Các công trình nghiên cứu lịch sử và chính trị - xã hội Thái Lan của Rebricova N. (1960, 1977, 1984), Berzin E. (1973), Fedorov V. (1982), Fomitrepva E. (1991).
  2. Học giả phương Tây: Nghiên cứu lịch sử, thể chế chính trị và chính sách đối ngoại Thái Lan của Fistié Pierre (1963, 1967), Manich M. (1970), Barbara Leitch LePoer (1989), Galland Xavier (1998), Neuchterlein Donald E. (1965), Morell David (1981), Neher Clark D. (1990), Elliott David (1978), Likhit Dhiravegin (1997); nghiên cứu quan hệ song phương và cách mạng của Niksch Lary A. (1981), Gosha Christopher (1999).
  3. Học giả Thái Lan: Các công trình và hội thảo tại Đại học Chulalongkorn, Đại học Thammasat, Đại học Chieng Mai; các tác giả tiêu biểu như Sarasin Viraphon (1995), Upadit Pachariyankun (1980), Theeravit Khien (1981), Chulacheeb Chinwanno (1991, 1996) và đặc biệt là hệ thống công trình của Thanyathip Sripana (1989, 1991, 1992, 1995, 1996, 1997, 2001).

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong nước dựng lại bức tranh toàn diện, liên tục về tiến trình quan hệ hai nước từ năm 1976 đến năm 2000, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử truyền thống và khung phân tích quan hệ quốc tế đa tầng nấc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

  • Hệ tư tưởng và phương pháp luận chủ đạo: Thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các nguyên lý về sự vận động, phát triển, mối liên hệ phổ biến và quan điểm lịch sử - cụ thể.
  • Quan điểm chỉ đạo: Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
  • Lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại: Vận dụng lý thuyết chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do, lý thuyết về hợp tác và hội nhập quốc tế, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, lý thuyết hệ thống và phương pháp phân tích chính sách đối ngoại.
  • Bốn cấp độ phân tích: Cấp độ toàn cầu (hệ thống quốc tế, cạnh tranh nước lớn), cấp độ liên quốc gia (khu vực Đông Nam Á, ASEAN, Đông Dương), cấp độ quốc gia (thể chế, lợi ích dân tộc) và cấp độ cá nhân (vai trò của các nhà lãnh đạo).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp mô tả lịch sử; phương pháp lịch đại (theo trục thời gian) kết hợp phương pháp đồng đại (xem xét đa yếu tố trong cùng thời điểm); phương pháp logic - lịch sử; phương pháp so sánh lịch sử nhằm làm rõ những biến đổi về chất và lượng qua từng thời kỳ.
  • Phương pháp hệ thống và cấu trúc: Phân tích quan hệ song phương trong tương tác với các cấu trúc khu vực và toàn cầu; phân tích cơ chế vận hành trên các tầng nấc quan hệ (nhà nước và nhân dân).
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu: Áp dụng phép chứng minh dãy trong nghiên cứu an ninh - chính trị; phương pháp thống kê trong phân tích số liệu thương mại và đầu tư; tiến hành khảo sát thực địa, tiếp xúc học giả Thái Lan và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ, nhà ngoại giao tham gia thực tiễn quan hệ hai nước.

Nguồn tư liệu sử dụng

  1. Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin, văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương và Chỉ thị của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.
  2. Văn bản quy phạm, tuyên bố chung, hiệp định song phương giữa hai Chính phủ và Bộ Ngoại giao hai nước, văn kiện chính thức của ASEAN.
  3. Diễn văn, bài phát biểu, phỏng vấn báo chí của các nguyên thủ và quan chức cấp cao Việt Nam và Thái Lan.
  4. Báo cáo tổng kết, số liệu lưu trữ của các bộ, ngành chuyên môn Việt Nam.
  5. Sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, tạp chí chuyên ngành bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga và các tư liệu tiếng Thái qua bản dịch.

Nội dung chính theo từng chương

Danh mục các bảng thống kê trong luận án

Ký hiệu bảng Tên bảng số liệu Trang văn bản
Bảng 1.1 Mức độ tham gia về quân sự của Thái Lan vào chiến tranh Việt Nam trong thời gian 1964-1973 61
Bảng 2.1 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam từ 1978 đến 1983 109
Bảng 2.2 Quan hệ thương mại giữa Thái Lan và Việt Nam từ 1985 đến 1988 118
Bảng 3.1 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan từ 1990 đến 1995 151
Bảng 3.2 Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam từ 1991 đến 1995 152
Bảng 3.3 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam-Thái Lan từ 1995 đến 2000 182
Bảng 3.4 Đầu tư trực tiếp theo ngành của Thái Lan ở Việt Nam 187

Chương 1: Khái quát về quan hệ Việt Nam-Thái Lan trong lịch sử

Chương 1 làm rõ các tiền đề bền vững và khái quát tiến trình lịch sử quan hệ hai nước từ thế kỷ XIII đến trước năm 1976 qua các giai đoạn cụ thể:

  • Những tiền đề của quan hệ Việt Nam - Thái Lan:
    • Vị trí địa lý: Cùng nằm trên bán đảo Trung Ấn thuộc Đông Nam Á lục địa; liên kết giao thông tự nhiên qua sông Mê Kông và tuyến hải trình ven biển.
    • Điều kiện tự nhiên - kinh tế: Địa hình, khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đồng, cùng dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp trồng trọt lúa nước (các nhóm giống lúa Indica, Japonica).
    • Cơ sở và quá trình phát triển văn hóa: Cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, Ấn Độ (Phật giáo), văn hóa bản địa Đông Nam Á và tiếp xúc phương Tây; tạo nên tâm lý khoan dung, hòa hợp.
    • Liên hệ nhân dân và quan hệ tộc người: Quá trình thiên di lịch sử của người Thái xuống vùng Tây Bắc Việt Nam (từ thế kỷ VIII, IX-X) và các đợt di cư của người Việt sang Thái Lan (cuối thế kỷ XVIII, phong trào Cần Vương, Duy Tân 1908, Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, tản cư kháng chiến chống Pháp đầu năm 1946).
  • Quan hệ trước năm 1883:
    • Kinh tế và ngoại giao: Giao thương bắt đầu từ rất sớm; năm 1149 dưới thời Lý Anh Tông, thuyền buôn Xiêm La và Lộ Lạc cập bến xin lập trang Vân Đồn để buôn bán; năm 1182 sứ Xiêm sang đặt quan hệ; thời Lê (thế kỷ XV) buôn bán diêm tiêu, sắt, lụa gốm, nhà Lê định lệ triều cống năm 1485; thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (thế kỷ XVIII - XIX), buôn bán gạo phát triển mạnh (các năm 1789, 1791, 1793, 1797); nhà Nguyễn ban hành biểu thuế thuyền buôn Xiêm năm 1809 (gồm 13 điều) và giữ nguyên mức ưu đãi năm 1825; mở lớp dạy tiếng Xiêm năm 1836.
    • Mối quan hệ chính trị và sự xuất hiện tính hai mặt (giao hảo song hành cạnh tranh): Liên minh quân sự Nguyễn Ánh - triều đình Chakri (1782-1802); các cuộc xung đột quân sự do tranh chấp ảnh hưởng tại Campuchia và Lào, đụng độ tại Hà Tiên (các năm 1687, 1715, 1771-1773, 1833) và trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1784.
  • Quan hệ từ năm 1883 đến 1945: Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (Hiệp ước Harmand 1883), trực tiếp đại diện cho Đông Dương trong quan hệ với Xiêm. Tranh chấp lãnh thổ Pháp - Xiêm dẫn đến các hiệp ước 1867, 1893, 1907. Xiêm chịu sức ép từ Hiệp ước London 1896 giữa Anh và Pháp; đến năm 1940 dưới thời chính phủ Phibun Songkram, Thái Lan liên minh với Nhật và phát động chiến tranh Pháp - Xiêm để giành lại đất ở Lào và Campuchia.
  • Quan hệ từ năm 1945 đến 1954: Giai đoạn hai nước có những tiếp xúc ban đầu thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao và mạng lưới ủng hộ cách mạng của kiều bào.
  • Quan hệ từ năm 1954 đến 1975: Tình trạng chia cắt của Việt Nam; chính quyền Thái Lan tham gia khối SEATO, liên minh quân sự với Mỹ và trực tiếp gửi quân tham chiến tại chiến trường Việt Nam (tổng hợp chi tiết tại Bảng 1.1).

Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến 1989

Chương 2 phân tích giai đoạn phức tạp với sự đan xen và giằng co quyết liệt giữa hai xu hướng đối đầu và cải thiện quan hệ:

  • Bước đầu cải thiện quan hệ (1976 - 1978): Ngày 6/8/1976, hai nước chính thức ký thông cáo chung thiết lập quan hệ ngoại giao. Chuyến thăm chính thức Thái Lan của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1978 mở ra triển vọng bình thường hóa và phát triển kinh tế - thương mại bước đầu.
  • Sự trở lại tình trạng đối đầu (1979 - 1985): Do tác động của "vấn đề Campuchia" và sự can dự của các nước lớn, quan hệ hai nước rơi vào khủng hoảng sâu sắc và căng thẳng quân sự dọc biên giới Thái Lan - Campuchia. Tuy nhiên, các kênh tiếp xúc ngoại giao không bị cắt đứt hoàn toàn, giao lưu thương mại quy mô nhỏ vẫn được duy trì ngầm hoặc gián tiếp (phản ánh tại Bảng 2.1 với kim ngạch giai đoạn 1978-1983).
  • Bước chuyển sang hòa dịu (1985 - 1989): Xu thế chuyển biến từ đối đầu sang đối thoại trong bối cảnh quốc tế thay đổi; Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đề ra đường lối Đổi mới; phía Thái Lan, Thủ tướng Chatichai Choonhavan đưa ra chủ trương "Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường" (1988). Các cuộc đối thoại khu vực như Hội nghị không chính thức Jakarta về Campuchia (JIM) diễn ra; thương mại song phương tăng trưởng trở lại (thống kê tại Bảng 2.2 giai đoạn 1985-1988).

Chương 3: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ 1989 đến 2000

Chương 3 trình bày tiến trình hòa dịu, bình thường hóa hoàn toàn và nâng tầm hợp tác toàn diện:

  • Khẳng định xu thế hòa dịu và hợp tác (1989 - 1995): Giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia với việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris năm 1991. Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước được nối lại và đẩy mạnh; Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) năm 1992, mở đường gia nhập ASEAN. Quan hệ kinh tế song phương phát triển nhanh chóng (phản ánh qua Bảng 3.1 về thương mại 1990-1995 và Bảng 3.2 về dòng vốn FDI của Thái Lan giai đoạn 1991-1995).
  • Hợp tác cùng phát triển trong giai đoạn 1995 - 2000: Mốc sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995 tạo chuyển biến về chất trong quan hệ song phương. Hai nước phối hợp chặt chẽ trong các cơ chế đa phương: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), ASEM, APEC; giải quyết vấn đề phân định ranh giới biển vịnh Thái Lan bằng Hiệp định phân định ranh giới trên biển ký ngày 9/8/1997. Quan hệ thương mại và cơ cấu đầu tư trực tiếp theo ngành mở rộng mạnh mẽ (được hệ thống hóa tại Bảng 3.3 và Bảng 3.4).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học:

  • Đây là công trình đầu tiên dựng lại toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan trong giai đoạn 1976 - 2000 một cách có hệ thống, toàn diện và khách quan.
  • Đóng góp vào phương pháp luận nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam thông qua việc kết hợp giữa phương pháp lịch sử chuyên ngành với hệ thống lý thuyết quan hệ quốc tế đương đại, ứng dụng 4 cấp độ phân tích (toàn cầu, khu vực, quốc gia, cá nhân) để mổ xẻ động thái chính sách và cơ chế tương tác đa tầng.
  • Làm sáng tỏ quy luật vận động mang tính hai mặt (vừa hợp tác vừa cạnh tranh/đối đầu) có nguồn gốc từ lịch sử và chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các nhân tố môi trường quốc tế cũng như lợi ích địa - chính trị tại tiểu vùng Đông Nam Á lục địa.

Về mặt thực tiễn và chính sách:

  • Cung cấp cơ sở khoa học và tổng kết thực tiễn cho các cơ quan hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng chính sách với Vương quốc Thái Lan và khối ASEAN.
  • Luận giải cơ chế kiểm soát bất đồng, thúc đẩy xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và hợp tác kinh tế - thương mại nhằm phục vụ công cuộc Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án bị giới hạn khung thời gian đến năm 2000 do yêu cầu đăng ký đề tài tại thời điểm năm 2001, do đó chưa bao quát được các bước phát triển quan hệ song phương trong thế kỷ XXI; nguồn tư liệu tiếng Thái chủ yếu tiếp cận qua bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi tiến trình quan hệ song phương Việt Nam - Thái Lan sau năm 2000, nghiên cứu sâu hơn về sự phối hợp giữa hai nước trong các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Kông (như GMS, ACMECS) và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Lịch sử quan hệ quốc tế, Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Đông phương học, Đông Nam Á học; cán bộ nghiên cứu chiến lược, chuyên viên đối ngoại tại Bộ Ngoại giao và các cơ quan ban ngành đối ngoại.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao: Hệ thống sử liệu cổ ghi chép về quan hệ bang giao Xiêm - Việt từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIX; phân kỳ chi tiết diễn biến quan hệ giai đoạn 1976 - 2000 qua các điểm nút Campuchia, gia nhập ASEAN, phân định ranh giới biển; hệ thống 7 bảng số liệu thống kê thương mại và đầu tư trực tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Mốc thời gian 1976 và 2000 của đề tài được luận án xác định dựa trên căn cứ nào?
Mốc mở đầu là ngày 6/8/1976, thời điểm Việt Nam và Thái Lan chính thức ký thông cáo chung thiết lập quan hệ ngoại giao, chấm dứt thời kỳ đối đầu trong chiến tranh Đông Dương. Mốc kết thúc năm 2000 là quy ước mang tính tạm thời gắn với thời điểm đăng ký đề tài vào năm 2001 và thời điểm chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ, khi quan hệ hai nước đã định hình vững chắc trong khuôn khổ hợp tác toàn diện của ASEAN.

2. Những tiền đề lịch sử cơ bản nào duy trì mối quan hệ gần gũi giữa hai nước?
Luận án chỉ ra 4 tiền đề cơ bản: (1) Vị trí địa lý gần kề trên bán đảo Trung Ấn kết nối qua đường biển và lưu vực sông Mê Kông; (2) Nét tương đồng trong điều kiện tự nhiên - kinh tế nông nghiệp lúa nước; (3) Nền tảng văn hóa khoan dung, tiếp biến văn minh Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây; (4) Mối liên hệ nhân dân lâu đời và quan hệ đồng tộc của các cộng đồng cư dân sinh sống trên cả hai lãnh thổ.

3. Tính hai mặt trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời kỳ trước năm 1883 được thể hiện như thế nào?
Quan hệ vừa mang tính chất giao hảo thân thiện (buôn bán tấp nập tại Vân Đồn, các thương vụ lúa gạo tại Nam Bộ, các phái đoàn ngoại giao, liên minh quân sự giữa Nguyễn Ánh và triều đình Chakri), vừa chứa đựng mầm mống cạnh tranh, đối đầu gay gắt xuất phát từ việc tranh chấp ảnh hưởng chính trị tại Campuchia, Lào và các cuộc đụng độ quân sự ở vùng ven biển miền Nam Việt Nam (Hà Tiên, trận Rạch Gầm - Xoài Mút 1784).

4. Luận án đã tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng những cấp độ phân tích quan hệ quốc tế nào?
Luận án vận dụng 4 cấp độ phân tích: cấp độ toàn cầu (tác động của Chiến tranh Lạnh và các nước lớn Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc), cấp độ liên quốc gia (quan hệ trong khu vực Đông Nam Á, ASEAN và Đông Dương), cấp độ quốc gia (mục tiêu an ninh, kinh tế, thể chế chính trị của mỗi nước) và cấp độ cá nhân (vai trò của các nhà lãnh đạo cấp cao trong việc ra quyết định đối ngoại).

5. Bước chuyển biến lớn nhất trong quan hệ song phương giai đoạn 1989 - 2000 là gì?
Đó là sự chuyển hóa từ trạng thái đối đầu sâu sắc xung quanh "vấn đề Campuchia" sang hòa dịu, bình thường hóa hoàn toàn và trở thành đối tác hợp tác cùng phát triển sau khi giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia (1991), ký kết Hiệp định phân định ranh giới trên biển (1997) và đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995.


Kết luận

Bản luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Khắc Nam là một công trình nghiên cứu lịch sử ngoại giao có hệ thống về quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong giai đoạn 1976 - 2000. Bằng việc kết hợp phương pháp luận lịch sử với các lý thuyết quan hệ quốc tế đương đại, luận án đã tái hiện bức tranh tổng thể đa diện, đa tầng, làm sáng tỏ các tiền đề lịch sử, bản chất hai mặt cũng như các động lực chi phối tiến trình vận động từ đối đầu sang hòa dịu và hợp tác toàn diện. Công trình không chỉ đóng góp giá trị học thuật trong nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á mà còn mang ý nghĩa thực tiễn đối với công tác hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam.