Chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam từ 2009 đến 2020

Nghiên cứu chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2009-2020. Tìm hiểu mục tiêu, hoạt động và thành tựu, đóng góp của Việt Nam trong giao lưu văn hóa quốc tế.

Chuyên ngành

Quan Hệ Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

185
29
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về ngoại giao văn hóa

1.2. Nghiên cứu về các yếu tố cấu thành nên ngoại giao văn hóa Việt Nam

1.3. Nghiên cứu về chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HOÁ VIỆT NAM

2.1. Nội hàm và vai trò của chính sách ngoại giao văn hoá

2.2. Cơ sở thực tiễn của chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam

2.2.1. Nhân tố bên ngoài

2.2.2. Nhân tố bên trong

2.3. Nền tảng ngoại giao văn hoá của Việt Nam qua các thời kỳ

3. CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009-2020

3.1. Sự ra đời của các chiến lược và cơ sở pháp lý của chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam

3.2. Nội dung chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam giai đoạn 2009-2020

3.3. Thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hoá Việt Nam giai đoạn 2009-2020

3.3.1. Thúc đẩy hoạt động và nâng cao vai trò tại các tổ chức quốc tế

3.3.2. Quảng bá thông tin, hình ảnh đất nước

3.3.3. Trao đổi văn hóa và các chương trình biểu diễn nghệ thuật

3.3.4. Đồng tổ chức các sự kiện văn hóa và tham gia hợp tác văn hóa quốc tế

3.4. Trường hợp nghiên cứu – Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất ở nước ngoài” giai đoạn 2009-2019

3.4.1. Kết quả triển khai

3.4.2. Đánh giá việc triển khai đề án

4. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ, DỰ BÁO VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Thành tựu và hạn chế của ngoại giao văn hóa Việt Nam (2009-2020)

4.2. Ngoại giao văn hóa Việt Nam đến năm 2030

4.2.1. Xu hướng và đặc điểm của ngoại giao văn hóa hiện đại trên thế giới

4.2.2. Thuận lợi và khó khăn đối với ngoại giao văn hóa Việt Nam

4.2.3. Xu hướng của ngoại giao văn hóa Việt Nam

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI VÀ DANH SÁCH PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA VIỆT NAM TỪ 2009-2020

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu về ngoại giao văn hóa

Phần này tổng quan các nghiên cứu về ngoại giao văn hóa, chia thành ba nhóm chính. 1.1. Lý thuyết ngoại giao văn hóa: Đề cập đến các tác phẩm quốc tế nổi bật như "Sự va chạm của các nền văn minh" của Samuel P. Huntington (2007) nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế. Joseph Nye, Jr. (1990, 2002, 2009) với khái niệm "quyền lực mềm" liên kết với ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng. Các tác phẩm khác như "Culture and International History" (2004) và "Searching for a Cultural Diplomacy" (2010) phân tích đặc điểm ngoại giao văn hóa của các quốc gia, khu vực. 1.2. Nghiên cứu ngoại giao văn hóa ở Việt Nam: Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ngoại giao văn hóa còn khá mới mẻ. Một số bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế đã đề cập đến tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa, nội hàm khái niệm, mối quan hệ với ngoại giao công chúng và quyền lực mềm. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu còn hạn chế và chưa có sự hệ thống hóa. 1.3. Hạn chế của các nghiên cứu hiện có: Các nghiên cứu hiện tại còn thiếu chiều sâu, chưa phân tích đầy đủ bối cảnh, thực tiễn và tác động của ngoại giao văn hóa Việt Nam. Cần có thêm những nghiên cứu cụ thể, phân tích các trường hợp điển hình để làm rõ hơn hiệu quả và thách thức của ngoại giao văn hóa.

II. Cơ sở lý luận và hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam

Phần này tập trung vào cơ sở lý luận và thực tiễn của ngoại giao văn hóa Việt Nam. 2.1. Khái niệm và vai trò: Ngoại giao văn hóa được định nghĩa là việc sử dụng văn hóa để tăng cường hiểu biết và hợp tác quốc tế. Vai trò của nó là xây dựng hình ảnh quốc gia, thúc đẩy quan hệ đối ngoại, quảng bá văn hóa dân tộc. 2.2. Các yếu tố cấu thành: Ngoại giao văn hóa Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các giá trị văn hóa truyền thống. Các nghiên cứu về bản sắc dân tộc của Trần Văn Giàu, Trần Ngọc Thêm, Phan Ngọc đã chỉ ra những nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam như yêu nước, cần cù, sáng tạo, trọng tình nghĩa... 2.3. Thực tiễn hoạt động: Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động ngoại giao văn hóa như tổ chức các sự kiện văn hóa, giao lưu nghệ thuật, hợp tác giáo dục, quảng bá du lịch... Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả của ngoại giao văn hóa.

III. Chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2009 2020

Phần này phân tích nội dung và thực tiễn triển khai chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2009-2020, được coi là giai đoạn quan trọng khi ngoại giao văn hóa chính thức trở thành một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam. 3.1. Cơ sở pháp lý: Chính sách ngoại giao văn hóa được thể hiện qua các văn kiện, chiến lược của Đảng và Nhà nước như Chiến lược Văn hóa đối ngoại đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 3.2. Nội dung chính sách: Chính sách tập trung vào việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, tăng cường hợp tác quốc tế về văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. 3.3. Thực tiễn triển khai: Việt Nam đã đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, tổ chức các sự kiện quốc tế, tham gia các tổ chức quốc tế về văn hóa. Một ví dụ điển hình là đề án "Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất" giai đoạn 2009-2019. 3.4. Kết quả và hạn chế: Ngoại giao văn hóa đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu nguồn lực, cơ chế phối hợp chưa hiệu quả, chưa khai thác hết tiềm năng của văn hóa.

IV. Đánh giá dự báo và khuyến nghị

Phần này đánh giá, dự báo và đề xuất khuyến nghị cho chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam. 4.1. Đánh giá tổng quan: Ngoại giao văn hóa Việt Nam giai đoạn 2009-2020 đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. 4.2. Dự báo xu hướng: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ngoại giao văn hóa sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng. Cần dự báo các xu hướng phát triển của ngoại giao văn hóa trên thế giới để có những điều chỉnh phù hợp. 4.3. Khuyến nghị chính sách: Luận án đề xuất một số khuyến nghị như: tăng cường đầu tư cho ngoại giao văn hóa, hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đa dạng hóa hình thức hoạt động, tăng cường hợp tác quốc tế... Nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả của ngoại giao văn hóa Việt Nam trong thời gian tới.

11/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Liên quan đến nhóm tài liệu nghiên cứu của đề tài có thể chia làm ba nhóm chính: 1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về ngoại giao văn hóa Văn hóa đóng vai trò nền tảng và nòng cốt của ngoại giao văn hóa, văn hóa là xương sườn của cá thể sống ngoại giao văn hóa, chính vì thế không ít công trình nghiên cứu tập trung đến đề tài này. Liên quan chặt chẽ đến vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế, mối quan hệ giữa văn hóa và ngoại giao văn hóa không thể không đề cập đến tác giả Samuel P. Huntington (2007) với cuốn Sự va chạm của các nền văn minh đã chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong quan hệ quốc tế, những tác động bao trùm của văn hóa lên toàn thế giới. Huntington (2007) đã nói trong thế giới hậu chiến tranh Lạnh, văn hóa chứ không phải lý tưởng, chính trị hay kinh tế mới là nét khác biệt, sự độc đáo phân biệt người này với người khác.

Hành vi ứng xử của các chính phủ quốc gia được định hình không chỉ bởi sự mưu cầu quyền lực và của cải, mà còn bởi các ưu tiên, các nét tương đồng và khác biệt thuộc về văn hóa. Chính vì thế, các xung đột tiềm ẩn rộng lớn, quan trọng và nguy hiểm có nguy cơ xảy ra giữa các nhóm người thuộc về các thực thể văn hóa khác nhau. Joseph Nye, Jr (1990, 2002, 2009) (tiêu biểu như Soft Power: The Means to Success in World Politics) là người đầu tiên đưa ra khái niệm quyền lực mềm là chủ thể bao trùm của ngoại giao văn hóa và ngoại giao công chúng cũng như mối tương quan của các chủ thể này. Ông đã nhấn mạnh văn hóa chính là một trong những cội nguồn của quyền lực mềm; theo đó năng lực của một quốc gia ảnh hưởng đến quốc gia khác thông qua văn hóa, các ý tưởng chính trị và các chính sách, trong đó văn hóa được coi là một nguồn của quyền lực mềm (tại nơi mà nó tạo sự hấp dẫn cho người khác).

Hay cuốn sách Culture and International History của Gienow-Hecht J. (2004) đã khái quát văn hóa “thực sự là phẩn thiết yếu của ngành quan hệ quốc tế, nó là nhân tố cơ bản cho nghiên cứu của ngành”. Đối với nguồn tài liệu về lý thuyết ngoại giao văn hóa, hiện nay đã hình thành nên một hệ thống bài viết, tác phẩm, công trình về ngoại giao văn hóa với tư cách là một 11 chủ thể nghiên cứu xuất hiện khá nhiều như Gienow-Hecht J. (2010) Searching for a Cultural Diplomacy hay Laos N.

(2011) với Foundations of cultural diplomacy. Nếu như Laos tập trung vào nền tảng của ngoại giao văn hóa như văn hoá, quy chuẩn, quan hệ quốc tế, các giá trị, các học thuyết thì Gienow-Hecht lại tập trung phân tích đặc điểm ngoại giao văn hóa của các quốc gia khu vực khác nhau nhằm làm rõ và khái quát lên mô hình của ngoại giao văn hóa. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ sử dụng ngoại giao văn hóa để miêu tả quá trình quốc gia gia tăng khu vực ảnh hưởng thông qua những hình thức phi chính trị, phi quân sự với tư cách là một cực của thế giới. Điều đó được thể hiện Theo Ủy ban cố vấn về Ngoại giao văn hóa, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại cho rằng ngoại giao văn hóa là con đường hai chiều: giúp cho người dân nước ngoài hiểu Hoa Kỳ, và đồng thời cũng giúp cho Hoa Kỳ hiểu các dân tộc khác đang nghĩ gì.

Chính vì thế, thuật ngữ “ngoại giao văn hóa” đầu tiên đề cập đến sự liên kết tới những ảnh hưởng và sự lôi kéo về mặt chính trị, tiếp theo đó là những yếu tố về sự tương tác trong các hoạt động cũng như chính sách ngoại giao của các quốc gia. Lịch sử nghiên cứu và tìm kiếm định nghĩa về ngoại giao văn hóa được thể hiện khá đầy đủ trong cuốn sách Searching for Cultural Diplomacy với khái quát ba hướng chính trong quá trình nghiên cứu về khái niệm này của thế kỷ XX. Một là, ngoại giao văn hóa được mô tả là sự trao đổi ý tưởng, thông tin, nghệ thuật và các khía cạnh văn hóa khác giữa các quốc gia và người dân của họ để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau hoặc, ngoại giao văn hóa có thể được miêu tả là một tập hợp các hành động dựa trên và tận dụng việc trao đổi ý tưởng, giá trị, truyền thống và các khía cạnh của văn hóa hay bản sắc để tăng cường quan hệ, nâng cao hợp tác văn hóa-xã hội hoặc thúc đẩy lợi ích quốc gia. Hai là, ngoại giao văn hóa có thể được định nghĩa là việc sử dụng các nhân tố văn hóa để gây ảnh hưởng tới người dân nước khác, các nhà hoạch định quan điểm và thậm chí là các lãnh đạo nước ngoài.

Ba là ngoại giao văn hóa không phải là một công cụ chính sách đối ngoại đơn thuần mà là một quá trình đa diện của chính trị văn hóa quốc tế dưới tác động của các mục tiêu quốc gia và bối cảnh chính trị-xã hội khác nhau. Ngoại giao văn hóa là một quá trình lâu dài liên 12 quan tới hàng loạt chính sách, sáng kiến và hoạt động nhằm mục đích thúc đẩy lợi ích quốc gia. Các định nghĩa này đều đồng ý với nhau ở một điểm là sử dụng văn hóa giống như một lĩnh vực và công cụ đặc biệt và đa dạng để thiết lập, phát triển, và duy trì mối quan hệ giữa các quốc gia. Điều này đạt được thông qua việc xây dựng hình ảnh tốt đẹp cũng như truyền bá văn hóa và ngôn ngữ của một quốc gia ra toàn thế giới.

Nội dung của ngoại giao văn hóa được xác định bởi việc sử dụng một loạt các nhân tố đa dạng của văn hóa để tác động lên cộng đồng nước ngoài, những người có tầm ảnh hưởng, và cả các nhà lãnh đạo nước ngoài. Những nhân tố này chứa đựng toàn bộ đặc điểm của một nền văn hóa như: giáo dục, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán, tính cách, thể thao, ngôn ngữ, và sở thích. Những nhân tố này được truyền tải một cách khéo léo bằng nhiều hình thức, trong đó đóng vai trò quan trọng là hoạt động hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng đang ngày càng phát triển rực rỡ làm cho khoảng cách địa lý trở nên gần hơn cũng như những nền văn hóa xa lạ trở nên gần gũi và sống động hơn. Ngoài ra, không thể không kể đến những đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng lý thuyết và cung cấp một bức tranh tổng thể về ngoại giao văn hóa trong các công trình nghiên cứu chính sách của các quốc gia ví dụ như Luke M.

Cultural Diplomacy and Archaeology: Soft Power, Hard Heritage. Các nghiên cứu về ngoại giao văn hóa hiện nay bên cạnh việc giới thiệu khái niệm, định nghĩa, nội dung hoạt động, đặc điểm và vai trò của ngoại giao văn hóa nói chung mà còn đưa ra những yêu cầu dành cho ngoại giao văn hóa trong bối cảnh quốc tế mới, đồng thời đáp ứng được mục tiêu hỗ trợ chính sách đối ngoại của các quốc gia. Tiêu biểu là tài liệu Cultural Diplomacy: The Linchpin of Public Diplomacy được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thực hiện và công bố năm 2005. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa trong chiến lược ngoại giao công chúng nói riêng và chính sách đối ngoại nói chung, đồng thời đưa ra những đề xuất nhằm tăng tính hiệu quả và phạm vi thực hiện các hoạt động ngoại giao văn hóa dựa trên kết quả khảo sát thực địa tại Muscat, Cairo, và London năm 2004.

Theo đó, các giá trị văn hóa, lý tưởng độc đáo và 13 phong phú của Hoa Kỳ thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố, và phát huy vai trò lãnh đạo quốc tế (bao gồm cuộc chiến chống khủng bố). Sau sự kiện 9/11, Hoa Kỳ phải đối mặt với những thách thức mới trong cuộc chiến chống khủng bố, đặc biệt là hình ảnh và danh tiếng của Hoa Kỳ bị xấu đi cũng như sự gia tăng làn sóng chống Hoa Kỳ tại các quốc gia Trung Đông vốn manh nha từ sau chiến tranh Iraq cũng như các chính sách của Hoa Kỳ với các vấn đề Israel-Palestine. Lúc này nó đòi hỏi những thay đổi trong chiến lược đối ngoại bao gồm cả ngoại giao văn hóa của Hoa Kỳ, đặc biệt với các quốc gia Hồi giáo. Chính vì vậy Nhiệm vụ tìm kiếm sự thật do Ủy ban Tư vấn Ngoại giao văn hóa (ACCD) (được thành lập tháng 3 năm 2004) được thực hiện tháng 6 năm 2004 tại Muscat, Cairo, và London nhằm xác định vai trò của nghệ thuật và văn hóa trong việc thực thi chính sách đối ngoại, đẩy mạnh hình ảnh quốc gia cũng như các hình thức hợp tác và thực hiện hiệu quả tại mỗi đại sứ quán Hoa Kỳ ở nước ngoài.

Khảo sát thực địa của bài viết cho thấy mức độ Hoa Kỳ đầu tư trong việc tìm hiểu nhu cầu và phương thức thích hợp để tiếp cận và triển khai hoạt động ngoại giao văn hoá của mình tại các quốc gia Trung Đông. Thông qua các buổi phỏng vấn, đối thoại, trao đổi tại thực địa, Hoa Kỳ đạt được ba mục tiêu: (i) xác định nhu cầu riêng biệt của các quốc gia Trung Đông; (ii) xác định thực trạng và hiệu quả của các hoạt động trao đổi, hơp tác văn hóa nghệ thuật mà Hoa Kỳ đã và đang thực hiện trong tương quan so sánh với các quốc gia khác; và (iii) xác định những thay đổi Hoa Kỳ cần thực hiện, những lĩnh vực Hoa Kỳ cần tăng cường để gia tăng sự hiện diện của mình tại các quốc gia Hồi giáo. Cultural Diplomacy: the linchpin of public diplomacy không chỉ đặt nền móng quan trọng trong việc xây dựng chiến lược và chính sách ngoại giao văn hóa của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI. Mà còn đưa ra một lời nhắc nhở quan trọng không chỉ cho Hoa Kỳ mà tất cả các quốc gia trong quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược ngoại giao văn hóa: ngoại giao văn hoá chỉ thành công khi nó nhận được sự đầu tư đúng đắn, cam kết lâu dài của tất cả các chủ thể từ nhà nước đến tư nhân, 14 trong đó chính phủ cần đóng vai trò cốt yếu trong việc định hướng và triển khai hoạt động ngoại giao văn hoá, đặc biệt ở nước ngoài.

Thay đổi nhằm thích ứng với những nhu cầu và tình hình biến động quốc tế không ngừng cũng là một trong những đặc điểm của ngoại giao văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam 2009-2020" của tác giả Lê Thu Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Bùi Hồng Hạnh, trình bày một cái nhìn tổng quan về chính sách ngoại giao văn hoá của Việt Nam trong giai đoạn này. Nội dung bài viết không chỉ phân tích những thành tựu mà còn chỉ ra những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong việc xây dựng hình ảnh và phát triển văn hóa quốc gia trên trường quốc tế. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách mà ngoại giao văn hoá góp phần vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách xã hội và văn hóa liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La giai đoạn 1998-2015, nơi trình bày những nỗ lực giảm nghèo và phát triển xã hội, một phần không thể thiếu trong chính sách văn hóa.

Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về di sản văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long trong dạy học lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1918 cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của di sản văn hóa trong giáo dục và phát triển văn hóa dân tộc.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về chính sách ngoại giao văn hóa mà còn mở ra những góc nhìn đa dạng về mối liên hệ giữa văn hóa và phát triển xã hội trong bối cảnh hiện đại.