Chương 1 phân tích những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc ASEAN điều chỉnh quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh, từ đó hiểu được những điều kiện bên trong và bên ngoài khiến ASEAN điều chỉnh quan hệ đối ngoại với Mỹ. Vì ASEAN là tập hợp của 10 quốc gia vừa và nhỏ, hơn nữa, tính cố kết chưa cao, nên quá trình hoạch định ra lập trường chung của ASEAN với Mỹ vẫn chịu sự tác động nhiều hơn từ các nhân tố bên ngoài, gồm: bối cảnh quốc tế và khu vực, đặc biệt là sự thay đổi trong tương quan so sánh lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương, với vai trò đang lên của Trung Quốc và chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ASEAN. Dựa vào đó, ASEAN sẽ “phản ứng” cho phù hợp với những biến đổi của tình hình bên ngoài. 16 Chƣơng 2: ASEAN điều chỉnh trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh Trong chương này, luận án tập trung làm rõ việc ASEAN điều chỉnh lập trường chung với Mỹ, sau đó là những tuyên bố bằng văn bản.
Những nội dung chính trong quan hệ đối ngoại của ASEAN với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh được thể hiện qua Thông cáo chung của các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN và Tuyên bố chung của các cuộc họp cấp cao ASEAN - Mỹ từ 1991 đến nay. Theo đó, ASEAN lựa chọn những biện pháp hợp lý nhằm tối ưu hóa lợi ích trong quan hệ với Mỹ và triển khai mối quan hệ này trên thực tế, trên các lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - giáo dục và theo ba giai đoạn phát triển của quan hệ ASEAN - Mỹ. Chƣơng 3: Đánh giá sự điều chỉnh và triển vọng ASEAN điều chỉnh quan hệ với Mỹ đến năm 2020 Phần đầu chương đánh giá sự điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh theo hướng ngày càng độc lập, tự chủ hơn khi quyết định những quan hệ đối nội và đối ngoại của mình, chủ động và tích cực lôi kéo Mỹ “dính líu” vào hơn nữa vào khu vực Đông Nam Á là đúng đắn, về cơ bản đạt được những mục tiêu trong quan hệ với Mỹ nói riêng và mục tiêu chung của ASEAN. Tiếp đó, luận án phân tích những tác động của sự điều chỉnh này đến ASEAN, đến Mỹ và tương quan so sánh lực lượng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Phần cuối cùng dự đoán triển vọng ASEAN điều chỉnh quan hệ với Mỹ đến năm 2020 và đưa ra một số khuyến nghị chính sách của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và ASEAN trong tương lai gần. Trong luận án, tác giả đã cố gắng tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học, dựa trên phương pháp phân tích quan hệ quốc tế, sử dụng những nguồn tài liệu tin cậy nhất có thể. Tuy nhiên, đây là đề tài còn khá mới mẻ cả trong và ngoài nước, tiếp cận từ góc độ ASEAN, những điều chỉnh của ASEAN 17 trong quan hệ với Mỹ. Mặc dù thời gian gần đây, số lượng sách báo và bài viết về quan hệ ASEAN - Mỹ tăng lên đáng kể, nhưng đa phần tập trung phân tích mối quan hệ này hoặc tìm hiểu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ASEAN, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về đề tài này.
Do đó, luận án chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu từ các Thầy/Cô và độc giả để luận án được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! 18 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ ĐIỀU CHỈNH CỦA ASEAN TRONG QUAN HỆ VỚI MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 1. Nhận thức về chính sách đối ngoại và phân tích chính sách đối ngoại Trên thế giới, hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách đối ngoại.
Theo “Từ điển Thuật ngữ Ngoại giao Việt - Anh - Pháp” của Học viện Ngoại giao, chính sách đối ngoại là “chủ trương, chiến lược, kế hoạch và các biện pháp thực hiện cụ thể do một quốc gia đề ra liên quan đến các mối quan hệ quốc tế mà quốc gia đó thiết lập với các quốc gia và chủ thể khác nhằm tăng cường và bảo vệ lợi ích quốc gia của mình” [17]. Lion Noel cho rằng: “Chính sách đối ngoại là nghệ thuật chỉ đạo quan hệ của một quốc gia với các quốc gia khác” [39]. Ngoài ra, còn một vài khái niệm khác như: Chính sách đối ngoại của một quốc gia là sự kéo dài của chính sách đối nội; hay: Chính sách đối ngoại là sự phản ứng của một quốc gia trước những thay đổi của tình hình thế giới bên ngoài,… Trong những khái niệm trên đây, chủ thể của chính sách đối ngoại đều là quốc gia. Trong bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng phát triển nhanh và sâu rộng sau Chiến tranh lạnh, ngoài các quốc gia, chủ thể của chính sách đối ngoại còn có thể là các Nhà nước siêu quốc gia, các tập đoàn đa quốc gia hay tổ chức khu vực,… Vì vậy, Christopher Hill đưa ra định nghĩa với các chủ thể của chính sách đối ngoại mở hơn: “Chính sách đối ngoại là chuỗi các hành động nhằm tối đa hóa lợi ích của một thực thể chính trị đơn nhất hoặc quốc gia” [77, 285].
Chính sách đối nội và chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Cả hai loại chính sách này được hoạch định ra nhằm một mục đích duy nhất là tối đa hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình trên trường quốc tế. Các nhân tố bên trong quyết định khả năng hành động ở bên 19 ngoài, ngược lại, các sự kiện quốc tế và các diễn biến mới trong quan hệ quốc tế tác động trở lại, buộc mỗi quốc gia đề ra chính sách và biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối thiểu những ảnh hưởng tiêu cực và tận dụng, phát huy thời cơ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ đó, chính sách đối nội vẫn nổi trội hơn chính sách đối ngoại.
Chính sách đối ngoại phải xuất phát từ những mục tiêu và nhu cầu phát triển của đất nước. “Không thể có chính sách đối ngoại chung chung, xa rời hoàn cảnh thực tế đất nước. Càng không có chính sách đối ngoại hy sinh lợi ích dân tộc vì một lợi ích khác. Và như vậy, chính sách đối ngoại chỉ có thể phục tùng chính sách đối nội, hay cụ thể hơn, phục vụ lợi ích dân tộc” [39,43].
Bộ trưởng Quan hệ đối ngoại Pháp đã phát biểu trong cuộc họp báo ngày 8/9/1981: “Không có chính sách đối ngoại nữa, mà chỉ có sự thể hiện ở bên ngoài những chính sách đối nội và khả năng vươn ra bên ngoài những ưu tiên trong nước”. Việc hoạch định chính sách đối ngoại của mỗi nước phụ thuộc vào các yếu tố: (i) sức mạnh của quốc gia, gồm cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm; (ii) sứ mệnh của quốc gia; (iii) chế độ chính trị của quốc gia; (iv) vị trí địa-chính trị của quốc gia; (v) các yếu tố nội bộ; (vi) các yếu tố quốc tế và khu vực; (vii) chính sách đối ngoại của các quốc gia khác. Những tham biến cần tính đến khi phân tích chính sách đối ngoại gồm: (i) môi trường quốc tế; (ii) môi trường trong nước; (iii) nội dung chính sách đối ngoại: chính sách chung, mục tiêu và nhiệm vụ của đối ngoại, chính sách đối với từng đối tượng cụ thể, và phương châm thực hiện; (iv) công cụ thực hiện chính sách đối ngoại: chính trị - ngoại giao, quân sự và kinh tế [39,33]. Phân tích chính sách đối ngoại là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủ thể khác nhau trong quan hệ quốc tế, chủ yếu là các quốc gia, trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, thương mại, trao đổi văn hóa,… Trọng tâm của việc phân tích là nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, những cá nhân lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạch định đó, những nhân tố tác động và kết quả đạt được.
Khi phân tích chính sách đối ngoại, cần chú ý đến mối quan hệ 20 giữa môi trường quốc tế và môi trường bên trong. Phân tích chính sách đối ngoại và nghiên cứu quan hệ quốc tế đều xem xét mối quan hệ giữa các quốc gia hoặc các chủ thể chính trị khác. Tuy nhiên, học giả về quan hệ quốc tế cố gắng giải thích những đặc điểm của hệ thống quốc tế, trong khi những nhà phân tích chính sách đối ngoại tập trung vào các hành động thực tế của các chủ thể và nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, nhằm lý giải tại sao các chủ thể lại ứng xử như vậy. Hơn nữa, các nhà phân tích chính sách đối ngoại xem công việc của họ là nhằm cải tiến quá trình hoạch định chính sách đối ngoại sao cho các chủ thể có thể phản ứng hợp lý hơn, góp phần tạo ra mối quan hệ hòa bình, hữu nghị hơn giữa các quốc gia hoặc các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế [107].
Sự phối hợp đối ngoại của ASEAN trong quan hệ với Mỹ ASEAN tuy đã có Hiến chương từ năm 2007 và có hiệu lực từ cuối năm 2008 nhưng mô hình liên kết vẫn là liên Chính phủ và hợp tác khá lỏng lẻo. Sau 47 năm phát triển và mở rộng, ASEAN chưa có chính sách đối ngoại chung, mà chỉ có “quan hệ đối ngoại” (external relations) với các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế. Trong quan hệ với Mỹ, ASEAN không có chính sách đối ngoại chung với Mỹ, nhưng có lập trường chung và những định hướng đối ngoại cụ thể được nêu rõ trong các Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) và Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (ASEAN Summit) hàng năm. Những lập trường chung và định hướng đối ngoại trong quan hệ với Mỹ được hoạch định ra thông qua sự phối hợp về đối ngoại giữa các quốc gia thành viên ASEAN, trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Từ khi mở rộng thành ASEAN-10 đến nay, ASEAN giữ vị trí tương đối cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, không ngả theo một nước lớn nào chống lại nước lớn khác. Cả 10 quốc gia thành viên ASEAN, dù nghiêng nhiều hơn về phía Mỹ, phía Trung Quốc hay cân bằng, đều có chung lợi ích trong việc phát triển quan hệ với Mỹ. Việc xác định và xác định lại lợi ích quốc gia trong 21 công tác đối ngoại là một hoạt động chính trị thường xuyên của tất cả các chính quyền kể từ khi xuất hiện các quốc gia dân tộc có quyền tự quyết về đối ngoại.