Chương 1: PHẬT GIÁO – TINH THẦN DÂN TỘC CỦA MYANMAR. Chương 2: PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI MYANMAR GIAI ĐOẠN 1824 – 1948 Chương 3: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CUỐI THẾ KỶ XIX – NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. PHẬT GIÁO – TINH THẦN DÂN TỘC CỦA MYANMAR Một sự bình yên bao trùm cả không gian và thời gian, mọi chuyển động dường như trở nên chậm hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới, không vội vã không ồn ào. Đó là cảm nhận của những ai một lần đến với Myanamar – một vùng đất mà giáo lý nhà Phật tưới tẳm từ lâu khiến cho con người trở nên nhân hậu hiền lương.
Myanmar – vùng đất của Phật 1. Vị trí địa lý Về mặt địa lý, Myanmar nằm kề sát với Ấn Độ ở phía Tây, nên cư dân nơi đây là những người đầu tiên tiếp nhận các thành tố văn hóa của Ấn Độ. Phía Bắc giáp Trung Quốc, Đông giáp Lào, Đông Nam giáp Thái Lan, Tây Nam giáp biển Andaman và vịnh Bengal ở phía Tây. Myanmar là một đất nước có trường địa lý không thuần nhất, xét trên các phương diện địa hình địa mạo, khí hậu cũng như tính đa dạng sinh học [17, tr.
Núi đồi thống trị toàn bộ cảnh quan các vùng biên cương và đặc điểm này tạo thế khép kín của Myanmar trước các nước láng giềng. Các dòng sông chính ở Myanmar là Irrawaddy, Chindwin, Salween và Sittang, trong đó Irrawaddy được xem là huyết mạch của đất nước. Bức tranh các tộc người Hàng năm vào ngày 12/02, trên các đường phố Yangon diễn ra những cuộc tuần hành rực rỡ. Tất cả các dân tộc và bộ lạc cử đến thủ đô những đại biểu của mình.
Trong hàng ngũ của đoàn người tuần hành, người ta dễ dàng nhận ra người Karen qua quần áo dệt màu đỏ, người Môn qua bím tóc đuôi sam của đàn ông, người Palaung với áo khoác sặc sỡ, người Shan quần đen rộng, người Kachin thì lưỡng quyền cao như người Mông Cổ. mỗi tộc người trên đất Miến kết hợp lại thành một bức tranh tộc người đầy màu sắc, rất đa dạng nhưng vẫn thống nhất trong một chỉnh thể chung: dân tộc Myanmar. Người Myanmar là dân tộc yêu tự do và can đảm, có lòng tự hào dân tộc cao. Họ rất hiếu khách, rất tồn cổ và hãnh diện về tinh thần tồn cổ của mình [8, tr.
Tuy nhiên họ cũng rất thực tế, vui vẻ và thích trào phúng. Điều đáng chú ý là mỗi tộc người ở Myanmar có sự tương đương về mặt số lượng, trình độ và lịch sử, tạo 9 nên tính tự trị cao của mỗi tộc người; điều này làm cho vấn đề tộc người ở Myanmar trở nên nổi bật và phức tạp. Dân cư Myanmar bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau, họ là những người đầu tiên qua ba cuộc di cư từ Trung Á và Tây Tạng đến định cư tại vùng đất Myanmar. Cuộc di cư đầu tiên đưa đến đây người Môn – Khmer, nhóm di cư thứ hai là người Tạng – Miến, và nhóm thứ ba vào khoảng thế kỷ XIII – XIV là nhóm người Hán – Tháí.
Với hơn 135 sắc tộc khác nhau cùng tồn tại, Myanmar được mệnh danh là thiên đường cho các nhà nghiên cứu về dân tộc và ngôn ngữ, trong đó có 8 tộc người chủ yếu. Người Môn là những tàn dư bị cô lập của những cư dân cổ nhất của Miến Điện còn sót lại ở ba khu miền Nam là Thaton – Pegu – Tanitayi [15, tr. Đó là một nhóm dân tộc thiểu số thuộc chủng Mongoloid, xuất phát từ thung lũng sông Dương Tử, họ đã di chuyển vào châu thổ các con sông lớn ở Đông Nam Á như Menam, Irrawaddy. Họ có quan hệ họ hàng với những người Khmer dựa trên điểm tương đồng trong ngôn ngữ và hình dáng bên ngoài, sống ở Hạ Myanmar ngày nay.
Trước khi tiến sâu hơn nữa về phía Nam, người Môn sống ở đồng bằng Kyaukse tại Trung Myanmar. Trước thời kỳ Thiên Chúa giáo không xa, họ di chuyển tới hai nơi khác nhau là vùng Hạ Myanmar và vùng đông Salween ở Thái Lan. Người Môn chính là người thầy dạy cho người Miến, cả người dân bình thường lẫn giới cầm quyền, về nghệ thuật - tôn giáo và hành chính. Vô số các từ tiếng Miến sử dụng ngày nay có nguồn gốc là tiếng Môn.
Thương gia Ấn Độ cùng các nhà thám hiểm đầu tiên đã đi dọc theo đường biển Bengal tiến vào Suvarnabhumi hay còn gọi là “Vùng đất của những vị thần” [24, tr. 39] đã mang tri thức từ Ấn Độ truyền sang cho người Môn. Vào thế kỷ III BC, hoàng đế Ashoka đã cử hai đại sư sang Myanmar truyền đạo. Người Môn sử dụng tiếng Phạn và tiếng Pali vào thời kỳ muộn hơn so với văn tự tiếng Granthi ở miền Nam Ấn Độ.
Sau khi đao Phật suy tàn ở Ấn Độ, người Môn tiếp tục duy trì quan hệ với Sri Lanka nơi mà Phật giáo Tiểu thừa vẫn giữ nguyên địa vị như trong thời đại Ashoka. Một trong mối liên kết Phật giáo Tiểu thừa còn tồn tại đến ít nhất là thế kỷ XI. Vào thiên niên kỷ I, người Môn làm chủ những khu vực rộng lớn ở Đông Nam Á lục địa, một “Thế giới Môn” hình thành bao gồm ba khu vực trên đó thống trị ba 10 quốc gia hùng mạnh là Haripungaya, Dvaravati ở Thái Lan và Thaton ở Myanmar [17, tr. Nhưng qua quá trình lịch sử, người Môn bị người Miến đồng hóa nhiều, đã mất dần tiếng nói riêng kể cả trang phục riêng.
Tộc người đầu tiên để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử Myanmar là tộc người Pyu đến từ Tây Nam Trung Hoa vào khoảng thế kỷ III AD. Những tàn tích của kinh thành Sri Kshetra cách Prome 6 dặm về hướng Đông là dấu vết còn sót lại của nền văn hóa rực rỡ của họ trong khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ VIII. Người Pyu không chỉ theo Hindu giáo mà còn theo Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa. Vào khoảng thế kỷ VII, Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo chủ yếu trong bộ máy chính quyền cũng như trong xã hội của người Pyu.
Theo các nguồn tài liệu tiếng Trung, người Pyu sống chủ yếu trong các thành phố lớn được bao xung quanh là những bức tường gạch, họ là những con người thân thiện và hòa bình nhất Đông Nam Á. Tuy nhiên đôi khi bản chất yêu hòa bình lại trở thành nhược điểm. Chẳng hạn như khi họ từ chối dùng lụa bởi muốn sản xuất ra lụa thì phải hy sinh những con tằm. Tội ác rất ít khi xảy ra và các hình phạt cũng rất nhẹ nhàng chỉ trừ tội giết người.
Vua Pyu đặc biệt coi trọng việc truyền bá và nghiên cứu Phật học. Cư dân Pyu đã để lại rất nhiều những công trình kiến trúc tuyệt đẹp nằm ở Prome. Đó là những ngôi chùa cổ có chứa hài cốt của các vị cao tăng xây dựng theo kiểu hình trụ mái vòm, ảnh hưởng của kiến trúc Oriyan từ duyên hải phía Đông Bắc Ấn Độ. Điểm đặc biệt của kiến trúc Pyu là yếu tố vay mượn các sikhara (tháp), từ đó đem lại cho các đền chùa vẻ vững chãi như thể các đền thờ Bhubaneshwa ở Orissa [24, tr.
Người Pyu sau đó bị người Miến hay còn gọi là người Tây Tạng – Burma đánh bại. Đó là tổ tiên của người Miến hiện nay, là một dân tộc đông nhất ở Myanmar, sống tập trung chủ yếu ở những vùng rộng lớn và phì nhiêu của các lưu vực sông Irrawaddy và Sittaung. Họ có đặc điểm nước da hơi đen và cao lớn. Có giả thuyết cho rằng vào thiên niên kỷ III BC, người Miến đã bị những người thuộc bộ tộc Trung Hoa đánh đuổi ra khỏi quê hương của mình ở phía Tây Bắc Trung Hoa thuộc tỉnh Kansu (Cam Túc), qua miền Đông Tây Tạng, từ nơi đó họ đi qua Vân Nam để rồi tới Myanmar ròng rã suốt mấy thế kỉ.
Người Miến kể lại rằng họ đã đến đồng bằng Kyaukse nơi gặp gỡ của hai con sông Irrawaddy và Chindwin này vào thế 11 kỷ II AD. Đồng bằng Kyause, sau đổi thành Ledwin (vùng đất lúa gạo) chính là nền tảng sức mạnh cho đế chế Miến suốt vài thế kỷ. Trước khi đánh chiếm lãnh thổ của người Pyu, người Miến đã tiếp nhận Phật giáo Đại thừa, sau này Phật giáo Đại thừa vẫn chiếm ưu thế trên Thượng Myanmar cho tới giữa thế kỷ XI. Người Miến dựng nên vương quốc của mình bao xung quanh thành phố chính Pagan khoảng năm 849.
Theo như các bộ biên niên sử của người Miến kể lại, vương quốc Miến ban đầu gồm 19 ngôi làng, mỗi ngôi làng có môt nat (linh hồn) của riêng mình. Cũng vào năm 849, một vị thủ lĩnh đã họp nhất 19 ngôi làng ấy lại thành một quốc gia mang linh hồn dân tộc chung nhất. Dù cho làn sóng Ấn Độ hóa cùng Phật giáo Tiểu thừa được chọn làm quốc giáo vào thế kỷ XI, tín ngưỡng thờ nat vẫn tiếp tục tồn tại trong tâm trí của những người con của mảnh đất Miến Điện. Người Miến được ngợi ca là những con người mạnh mẽ anh hùng với vị vua vĩ đại nhất của mỗi thời đại – Anawrahta.
Ông chính là người đã lập ra đất nướcMiến Điện cổ có lãnh thổ gần giống với đất nước Myanmar ngày nay với đường biên giới trải dài từ Bhamo ở phía Bắc cho tới vịnh Martan ở phía Nam. Đường biên này được thiết lập sau rất nhiều lần chinh phục và hợp nhất với các tộc người bên ngoài bao gồm cả tộc người Môn phồn thịnh ở phương Nam. Tuy nhiên, kẻ đi chinh phục lại chịu khuất phục trước sức mạnh văn hóa vượt lên trên cả bạo quyền của kẻ đi chinh phục [24, tr. Sau cái chết của vua Anawrahta năm 1077, văn hóa Môn ảnh hưởng lớn tới Pagan trong cả cuộc sống chốn cung đình lẫn nơi thôn dã.
Các ngôi chùa ở Pagan đều do các kiến trúc sư và thợ thủ công người Môn xây dựng nên. Chữ viết của người Môn là cơ sở của chữ viết người Miến ra đời sau này, nó cũng trở thành phương tiện truyền bá cho trào lưu Ấn Độ hóa trong văn hóa, luật pháp và văn học. Trong khi người Miến thích thú với vai trò điều hành chính trị thì người Môn lại đảm trách lĩnh vực thông thương buôn bán với thế giới bên ngoài Myanmar [24, tr. Người Môn và người Miến có mối quan hệ thân thiết và giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc mở rộng bờ cõi cũng như góp nhặt nhiều yếu tố để tạo nên bản sắc riêng của văn hóa Myanmar, tuy vậy giữa họ vẫn có những bất đồng sâu sắc.